Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thông qua đó, Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hệ tư tưởng cách mạng vô giá. Trong đó, hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng là một trong những nội dung quan trọng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, các cấp, ngành, lực lượng và toàn dân đã thấu suốt, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người về quân sự, quốc phòng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đạt nhiều thành tựu quan trọng. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Thế trận quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng; sức mạnh về mọi mặt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được tăng cường. Kết hợp có hiệu quả giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại”1. Những thành tựu quan trọng đó không những góp phần thiết thực tăng cường thế và lực của đất nước, mà còn tạo điều kiện để nước ta tham gia có trách nhiệm và hiệu quả đối với cộng đồng quốc tế. Qua đó, khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
 
Thượng tướng Phan Văn Giang tham quan sản phẩm do Viện Vũ khí (Tổng cục Công nghiệp quốc phòng) nghiên cứu, thiết kế. (Ảnh: qdnd.vn 

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực, tạo thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và khu vực. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cường quyền, thực dụng ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế, tác động không nhỏ tới các thể chế đa phương cũng như sự phát triển của các nước vừa và nhỏ,theo cả hai chiều thuận - nghịch. Việc tập hợp lực lượng, liên kết, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nước trên thế giới và khu vực vì lợi ích của từng quốc gia tiếp tục diễn ra hết sức phức tạp.

Đối với nước ta, các thế lực thù địch tăng cường hoạt động chống phá trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, tư tưởng, văn hóa, trọng tâm là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động, ráo riết thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình”, nhằm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta rất nặng nề, có cả thời cơ thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Vì thế, hơn bao giờ hết, chúng ta phải tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng, trên cơ sở đó, vận dụng sáng tạo trong xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới. Trong đó, cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, vận dụng trong nghiên cứu, đánh giá đúng tình hình, cục diện thế giới, khu vực; xác định đối tác, đối tượng

Trước hết, việc vận dụng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về đánh giá tình hình thế giới, khu vực và trong nước vào xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự phải trên cơ sở đường lối chính trị, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, bối cảnh khu vực, quốc tế cũng như khả năng, điều kiện của đất nước. Theo đó, việc xác định bối cảnh của Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự cần đánh giá đúng mối quan hệ, vai trò của các nước lớn và sự chi phối của các mối quan hệ này đối với xu hướng vận động của thế giới. Tập trung đánh giá một cách khách quan các điểm nóng của khu vực, nhất là các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo và các vấn đề liên quan đến nước ta. Đồng thời, phải đánh giá, dự báo sát đúng tình hình trong nước cả hiện tại và trong tương lai, trên cơ sở đó chỉ ra các thách thức về quốc phòng, đối ngoại, nhất là các thách thức về “diễn biến hoà bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” cũng như thách thức từ tranh chấp ở Biển Đông và các thách thức an ninh phi truyền thống để tìm giải pháp và loại trừ thách thức trong Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự.

Hiện nay, trước sự diễn biến mau lẹ và phức tạp của tình hình, cần có cách nhìn mới, biện chứng về đối tượng, đối tác của cách mạng: trong mỗi đối tượng đều có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong các đối tác vẫn tồn tại những khác biệt và mâu thuẫn lợi ích với ta. Do vậy, trong từng lĩnh vực, khu vực, thời điểm cụ thể, có thể có những đối tượng, đối tác khác nhau. Cần có các hình thức thích hợp trong hợp tác và đấu tranh; đề phòng cả hai khuynh hướng: mơ hồ, mất cảnh giác hoặc cứng nhắc trong nhận thức, chủ trương và xử lý các tình huống cụ thể. Xác định đối tượng, đối tác là một sáng tạo của Đảng ta trong vận dụng tư tưởng “thêm bạn, bớt thù” của Hồ Chí Minh. Vì thế, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xác định đối tượng của Chiến lược Quốc phòng và đối tượng tác chiến của Chiến lược Quân sự cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa các vấn đề của quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực khác của đất nước, tạo điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển. Cần phải xác định cụ thể đối tượng của Chiến lược Quốc phòng và đối tượng tác chiến của Chiến lược Quân sự là các thế lực thù địch đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và thế lực nước ngoài xâm chiếm chủ quyền, biên giới, biển, đảo của Việt Nam.

Hai là, vận dụng trong xác định mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm của Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới

Đây là những nội dung quan trọng trong xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới. Vì thế, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xác định mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm của từng chiến lược phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện và khoa học, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, mục tiêu của Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự cần được thể hiện ở mục tiêu tổng quát: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, mục tiêu của Chiến lược Quốc phòng và Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới không đơn thuần là chuẩn bị đối phó với chiến tranh xâm lược, mà quan trọng hơn là phải giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, tạo thế ngăn ngừa, đẩy lùi mọi nguy cơ; xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt, coi đó là mục tiêu quan trọng hàng đầu và cũng là lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc. Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giữ vững các quan điểm, nguyên tắc, phương châm trong giải quyết các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng nhất là các nhiệm vụ quân sự trong chiến tranh. Trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn giữ vững quan điểm, nguyên tắc, phương châm, giải quyết đúng đắn các tình huống quốc phòng, an ninh, giữ vững hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Thực tế đó cần tiếp tục được vận dụng, phát huy trong xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự thời kỳ mới.

Ba là, vận dụng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân - nội dung trọng yếu của Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự

Một trong những nội dung cơ bản, quan trọng trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là quan điểm về quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Đó là nền quốc phòng của dân, do dân, vì dân, hòa bình, tự vệ; toàn dân làm quốc phòng, với tinh thần tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính. Nền quốc phòng đó phải được xây dựng vững mạnh toàn diện và không ngừng hiện đại, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, tạo sức mạnh giữ nước trong mọi tình huống, v.v. Vì thế, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng trong xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới phải hết sức coi trọng xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân cả về lực lượng, tiềm lực và thế trận. Đương nhiên, do mục tiêu, nội hàm của Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự không giống nhau, nên việc vận dụng tư tưởng của Người về xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong từng chiến lược cần thống nhất về nội dung, phạm vi và bước đi phù hợp. Quá trình vận dụng phải tuân thủ quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, bảo đảm vững toàn diện, mạnh ở trọng điểm, lấy chủ động phòng ngừa không để xảy ra đột biến là phương châm chỉ đạo chủ yếu; chủ động, tích cực chuẩn bị bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh.

Bốn là, vận dụng trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là xây dựng Quân đội nhân dân trong từng chiến lược

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là nội dung cốt lõi trong xây dựng thực lực cách mạng Việt Nam và được biểu hiện sinh động nhất trong xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ). Trong đó, xây dựng Quân đội nhân dân theo tư tưởng của Người phải là đội quân của dân, do dân và vì nhân dân phục vụ; lấy xây dựng chính trị trọng hơn quân sự, quân sự phục vụ chính trị và Đảng phải lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp quốc phòng. Đó là những nội dung căn bản, đảm bảo cho Quân đội ta xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và Quân đội nhân dân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân nói riêng vững mạnh về mọi mặt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước.

Trong tình hình mới, việc xây dựng Quân đội nhân dân trong Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự cần kế thừa những kết quả đã đạt được để tiếp tục nâng cao chất lượng tổng hợp của Quân đội, lấy nâng cao chất lượng về chính trị làm cơ sở, nhất là xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, quan tâm nghiên cứu điều chỉnh cơ cấu, tổ chức Quân đội theo hướng tinh, gọn, linh hoạt, cơ động, có sức chiến đấu cao. Thực hiện tốt phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trong đó có một số đơn vị, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Nâng cao khả năng cơ động, khả năng tác chiến tầm cao, tầm xa, tác chiến ban đêm của Quân đội. Tập trung nghiên cứu các biện pháp phòng chống vũ khí công nghệ cao, phát triển lý luận nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong điều kiện tác chiến mới.

Năm là, vận dụng trong tạo và phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước cho từng chiến lược, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

Để làm được điều đó, trong xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới, cần quan tâm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Yêu cầu đặt ra là, phải thấu suốt quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế của Đảng và Bác Hồ để tạo nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phải lấy mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức; trong đó, các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Trong điều kiện nước ta đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, việc phát huy tối đa nội lực đòi hỏi phải củng cố sự đoàn kết với phong trào cách mạng thế giới. Đồng thời, phải nắm vững phương châm ngoại giao “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” nhằm thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Phát huy bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ nghĩa yêu n­ước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phải nhất quán coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới, tiếp tục đoàn kết, ủng hộ các phong trào cách mạng, các xu hướng và trào lưu tiến bộ của thời đại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Sáu là, vận dụng trong tăng cường, nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng; xử lý tốt mối quan hệ với các nước lớn; kết hợp chặt chẽ hợp tác và đấu tranh

Đối ngoại quốc phòng là bộ phận quan trọng trên mặt trận ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta. Mục tiêu của đối ngoại quốc phòng là thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác về quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, nhằm góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Vì thế, vận dụng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng trong xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại của Đảng, phù hợp với điều kiện đất nước và bối cảnh quốc tế trong tình hình mới. Cùng với hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, ngoại giao nhân dân, hoạt động đối ngoại quốc phòng phải không ngừng được đẩy mạnh theo hướng “thêm bạn, bớt thù”; phát triển sâu, rộng cả về phạm vi và mức độ hợp tác với các quốc gia, các tổ chức, định chế quốc tế, góp phần từng bước đưa quốc phòng Việt Nam hội nhập thế giới. Nội dung, hình thức quan hệ, hợp tác quốc phòng phải được mở rộng trên nhiều lĩnh vực, với nhiều đối tác, trong đó có những nội dung mang tính đột phá, đóng góp hiệu quả vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nâng cao uy tín, vị thế của đất nước, Quân đội ở khu vực và trên thế giới. Trong tình hình mới, đối ngoại quốc phòng trong Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự không chỉ tăng cường mặt hợp tác, mà phải chú trọng cả mặt đấu tranh và kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh trên các mặt, lĩnh vực. Với các tranh chấp, mâu thuẫn, cần khôn khéo đấu tranh, xác định rõ ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng, khu vực, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống và các nước khác; đưa đối ngoại quốc phòng vào chiều sâu và có hiệu quả thiết thực.

Bảy là, vận dụng trong xử lý có hiệu quả các tình huống chiến lược, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới, môi trường hoà bình và lợi ích quốc gia - dân tộc

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng trong xử lý các tình huống chiến lược một cách khôn khéo, linh hoạt là một trong những nội dung quan trọng trong xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới. Theo đó và trên cơ sở dự kiến các tình huống chiến lược, Chiến lược Quốc phòng và Chiến lược Quân sự phải xác định đúng đối sách xử lý các tình huống đó, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, môi trường hoà bình và lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong bối cảnh phức tạp, khó lường của tình hình khu vực, quốc tế hiện nay, đối với nước ta, không loại trừ một số tình huống quốc phòng có thể xảy ra. Tuy thời điểm, tính chất, mức độ có thể khác nhau, song các tình huống đó không tách rời nhau, mà có quan hệ mật thiết với nhau, thậm chí là hệ quả của nhau. Vì thế, trong nhận thức và giải quyết từng tình huống trong Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, phải tính đến sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, không để từ tình huống này có thể dẫn đến tình huống khác, không làm tình hình trở nên phức tạp hơn. Vấn đề quan trọng là, chúng ta phải luôn vững vàng, chủ động đối phó với mọi tình huống, trên cơ sở phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của đất nước để giải quyết có hiệu quả các tình huống quân sự, quốc phòng. Trong đó, cần xác định rõ các giải pháp cơ bản, như: coi trọng công tác dự báo, nhất là dự báo chiến lược; chủ động chuẩn bị các phương án, kế hoạch, cơ sở vật chất, chuẩn bị thế trận và lực lượng, thường xuyên bổ sung, điều chỉnh hợp lý; tăng cường huấn luyện, diễn tập ở tất cả các cấp.

Tám là, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong chuẩn bị và tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới

Đây là nội dung cơ bản của Chiến lược Quốc phòng và là nội dung chủ yếu, xuyên suốt của Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới. Vì thế, việc chuẩn bị và tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong hai chiến lược này, nhất là trong Chiến lược Quân sự cần quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, trọng tâm là nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân vào điều kiện mới. Tư tưởng bao trùm của Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân là huy động toàn dân đánh giặc, vũ trang toàn dân; là tư tưởng tiến hành chiến tranh toàn diện: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đặc biệt là tư tưởng của Người về nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, mà nổi bật là nghệ thuật kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, chiến tranh nhân dân địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực. Đó còn là sự kết hợp chặt chẽ các yếu tố lực, thế, thời, mưu; đánh đổ từng bộ phận, giành thắng lợi từng bước, càng đánh càng mạnh; kết hợp hoạt động tác chiến với các hình thức đấu tranh khác, vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng, xây dựng các căn cứ địa, hậu phương chiến lược, v.v.

Ngày nay, những bài học về sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng vào xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới có giá trị vô cùng sâu sắc, đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt, tích cực, chủ động và sáng tạo trong vận dụng. Đây cũng là dịp để chúng ta nhận thức sâu sắc hơn những giá trị mang tính dẫn đường bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Thượng tướng, TS. PHAN VĂN GIANG, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Tung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

____________

1 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 146.

   0   Tổng số:
  Gửi ý kiến phản hồi
326