Suốt cuộc đời hoạt động Cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến sự trưởng thành, vững mạnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nổi bật trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là tư tưởng "Người trước súng sau". Quan điểm này được thể hiện rõ ngay từ khi Bác ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Đại tá TS.LÊ VĂN THÁI*

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một bộ phận trọng yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng quân sự của Người bao gồm một hệ thống các quan điểm cơ bản về cách mạng giải phóng thuộc địa, về khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang, về khoa học và nghệ thuật quân sự, xây dựng căn cứ địa, hậu phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc, v.v..Trong hệ thống các quan điểm quân sự cơ bản đó, Người đặc biệt coi trọng nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết này tìm hiểu tư tưởng của Người về nhân tố con người, “người trước, súng sau” trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.

 

Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, các dân tộc bị áp bức muốn được giải phóng, trước hết phải trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. Người đặt vấn đề quân sự, quân đội trong chiến lược chung của cách mạng giải phóng dân tộc thuộc quỹ đạo cách mạng vô sản. Mục tiêu hàng đầu của cách mạng giải phóng thuộc địa là chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc. Thực hiện mục tiêu đó, cách mạng phải có lực lượng vũ trang của mình, bởi vì chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Từ nhận thức đúng đắn đó, trong Chánh chương vắn tắt của Đảng (tháng 2-1930), Người chủ trương: “Tổ chức ra quân đội công nông”1 nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng xác định.

Gắn liền với việc xác định vai trò của lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân trong tiến trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Người khẳng định: Muốn xây dựng lực lượng vũ trang, phải xây dựng đội quân chính trị trước, “người trước, súng sau”. Người luận giải: Muốn có đội quân vũ trang, phải có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã. Nên việc này phải làm ngay, sao cho đội quân chính trị ngày càng đông. Như ở ta, muốn đánh Pháp - Nhật thì ai là người vác súng? Ta phải có “quần chúng giác ngộ chính trị vác súng thì mới đánh thắng được”2. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị đông đảo, tự nguyện, tự giác đứng vào hàng ngũ để từ đó xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở, tiến lên xây dựng và phát triển lực lượng chủ lực là một điểm mới được xác định trong lý luận và vận dụng sáng tạo trong thực tiễn.

Từ quan điểm đó, khi về nước cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Người hết sức quan tâm đến xây dựng con người, đào tạo đội ngũ cán bộ, đồng thời giải quyết vấn đề trang bị vũ khí và xác định cách đánh giặc, bởi đây là những vấn đề liên quan đến sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của lực lượng vũ trang.

Vấn đề đặt ra là, lực lượng vũ trang bao gồm lực lượng cơ sở và lực lượng chủ lực, trong lực lượng cơ sở lại có bộ phận trực tiếp sản xuất, có bộ phận thoát ly công tác; vì vậy nguyên tắc xây dựng đối với từng lực lượng, cũng như điều kiện kết nạp đội viên lại không giống nhau, đòi hỏi phải được giải quyết trong lý luận. Do đó, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (tháng 5-1941) do Người chủ trì, bên cạnh Nghị quyết Hội nghị và các văn kiện như Vấn đề Đảng, Chương trình Việt Minh... Hội nghị còn thông qua Điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc gồm 8 điểm. Về điều kiện kết nạp đội viên, điểm 4 của Điều lệ xác định: “Những người có chân trong hội cứu quốc của Việt Minh, có sức lực và hăng hái, thừa nhận điều lệ của đội thì được gia nhập vào tiểu tổ”3. Đồng thời, Điều lệ cũng nêu rõ: “Trong những hoàn cảnh cấp bách đặc biệt hoặc trong những địa phương chưa có đoàn thể cứu quốc của Việt Minh thì những người hăng hái đánh Pháp đuổi Nhật (xét ra không phải Việt gian thì có thể tổ chức tiểu tổ du kích cứu quốc để hành động cho kịp thời”4.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám, đến cuối năm 1941, lực lượng cách mạng phát triển nhanh, tiểu tổ du kích cứu quốc được tổ chức nhiều nơi trên địa bàn Việt Bắc. Ngày 1-12-1941, Trung ương Đảng gửi Chỉ thị đến các cấp ủy đảng địa phương, giải thích rõ thêm về nguyên tắc tổ chức và nhiệm vụ cụ thể các lực lượng vũ trang cơ sở. Chỉ thị nhấn mạnh rằng: Có thể lấy những người gan dạ nhất trong đội tự vệ hoặc trong đoàn thể cứu quốc để tổ chức ra những tiểu tổ du kích. Tiểu tổ du kích là những chiến sĩ có luyện tập quân sự, có thể đánh du kích, có năng lực chiến đấu cao hơn đội tự vệ. Cũng trong thời gian này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị tổ chức Đội du kích Pác Bó (Cao Bằng). Trong buổi giao nhiệm vụ cho Lê Thiết Hùng và Lê Quảng Ba làm kế hoạch tổ chức đội, Người nói: “Hiện nay, các đồng chí đã có một số súng ống, rồi ta sẽ có ngày một nhiều. Nếu cứ để từng người từng khẩu, ở rải rác mỗi người một nơi thì chỉ bảo vệ được bản thân mình, có khi lại không nổi. Muốn phát huy tác dụng của vũ khí, phải tập trung anh em lại, phải tổ chức, có chỉ huy, có kế hoạch học tập và hoạt động”5. Thực hiện chỉ thị của Người, Đội du kích Pác Bó được thành lập, gồm 12 cán bộ, đội viên.

Sau khi đã xác định nguyên tắc tổ chức, điều kiện kết nạp đội viên lực lượng tự vệ, tiểu tổ du kích và đội du kích tập trung (thoát ly sản xuất), vấn đề mới đặt ra là nguyên tắc tổ chức, điều kiện con người kết nạp vào lực lượng chủ lực ra sao để lực lượng đó ra đời và không ngừng phát triển. Cuối năm 1944, vấn đề đó được lãnh tụ Hồ Chí Minh xác định rõ trong bản Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Người khẳng định: “... về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”6. Đây là cách lựa chọn để tổ chức đội quân chủ lực có chất lượng cao, vì các đội du kích tự nó đã lựa chọn những người giác ngộ, khỏe mạnh và có tinh thần chiến đấu trong các đoàn thể quần chúng. Đội quân chủ lực lại lựa chọn trong những người được lựa chọn đó và được trang bị vũ khí tốt mà cách mạng có lúc đó. Thực hiện nguyên tắc chính này, lực lượng chủ lực có chất lượng vượt nội lực lượng vũ trang cơ sở, đủ khả năng đảm nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Chủ trương lựa chọn những con người ưu tú để tổ chức “đội quân đàn anh” tiếp tục được thực hiện trong các giai đoạn sau. Tháng 4-1948, trong thư gửi Hội nghị dân quân toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “... Lấy dân quân du kích làng làm nền tảng, đồng thời phải kiện toàn các đội du kích thoát ly”7. Cũng thời gian đó, Người ký sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Tháng 8-1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân, coi bộ đội địa phương và dân quân là hậu bị trực tiếp của quân chủ lực.

Lối tuyển chọn những người ưu tú vào lực lượng chủ lực được duy trì đều đặn trong hai cuộc kháng chiến, từng bước tạo ra các đại đoàn chủ lực mạnh trong kháng chiến chống thực dân Pháp; các quân đoàn, các quân chủng, binh chủng kỹ thuật thời chống đế quốc Mỹ thực sự là nét đặc sắc trong “khoa học tổ chức lực lượng vũ trang” của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Được Đảng và Người rèn luyện, giáo dục, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội là tập thể những con người có tinh thần cách mạng triệt để, được phát triển toàn diện về trình độ giác ngộ chính trị, về quân sự, có kỷ luật tự giác, biết sử dụng các thứ vũ khí trong tay để đánh thắng quân thù.

Hồ Chí Minh coi trọng xây dựng con người, đồng thời nhấn mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu then chốt. Người khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”7. “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”8.

Xuất phát từ quan điểm đó, Người hết lòng chăm lo đến việc đào tạo, huấn luyện cán bộ. Trên thực tế, từ những năm 1925-1926, Người đã gửi một số thanh niên yêu nước Việt Nam vào học Trường Quân sự Hoàng Phố (Quảng Châu, Trung Quốc) để sau này khi có điều kiện về nước xây dựng quân đội. Trường Quân sự Hoàng Phố tồn tại 3 năm và đã đào tạo được 5 khóa. Từ khóa 3 đến khóa 5, khóa nào cũng có học viên Việt Nam theo học. Theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng 20 học viên theo học ở trường này. Tại đây, các học viên được học các kiến thức cơ bản về quân sự theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bao gồm những quan điểm mácxít về chiến tranh, về nghệ thuật quân sự, về những nguyên tắc xây dựng quân đội và những kinh nghiệm tác chiến trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau của quá trình đấu tranh quân sự. Bên cạnh việc cử người đi học Trường Quân sự Hoàng Phố, Người còn tổ chức Trường Huấn luyện chính trị của cách mạng Việt Nam. Người là giảng viên chính, đồng thời là người lãnh đạo các khóa huấn luyện. Tranh thủ điều kiện thuận lợi, Người mời nhiều cán bộ quân sự Xôviết bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên, trong đó có Galin (sau này là nguyên soái Liên Xô) đến giảng dạy trong nhiều khóa. Từ đầu năm 1926 đến tháng 4-1927, Người đã trực tiếp mở ba khóa huấn luyện gồm 75 học viên. Nếu tính cả các khóa khác mà Người không trực tiếp giảng dạy (Người đã sang Liên Xô) thì có khoảng 200 học viên. Học viên Trường Huấn luyện chính trị được trang bị nhiều kiến thức cơ bản về chính trị và quân sự. Học xong, phần lớn học viên trở về nước hoạt động gây dựng cơ sở cách mạng. Nhiều học viên tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố như Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn, Trương Văn Lĩnh, v.v. khi về nước hoạt động, trở thành những cán bộ quân sự thuộc lớp đầu tiên của quân đội ta. Giữa năm 1941, Người chỉ thị đồng chí Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp chọn 10 thanh niên đi học lớp “Đệ tứ chiến khu vô tuyến điện, điệp báo viên” ở Trung Quốc. Cuối năm đó, theo chỉ thị của Người, Tổng bộ Việt Minh lựa chọn 30 cán bộ đi học quân sự, ngành tham mưu ở Trường Quân sự Liễu Châu (Trung Quốc).

Nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển quân đội, cùng với chủ trương mở nhiều trường đào tạo cán bộ quân sự trong nước, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chọn những cán bộ ưu tú của Đảng như Trần Đăng Ninh, Nguyễn Chí Thanh, Văn Tiến Dũng, v.v. và nhiều cán bộ khoa học tài năng như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Ngọc Xuân, v.v. tăng cường bổ sung cho quân đội. Cuối những năm 1950 đầu những năm 1960, Người chủ trương mở thêm các trường đào tạo, bổ túc cán bộ quân đội, đồng thời chỉ thị cử nhiều lớp cán bộ, chiến sĩ đi đào tạo ở các học viện, nhà trường quân sự ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Xuất phát từ quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, “công nông là gốc” và là chủ lực quân của cách mạng, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng lựa chọn những người xuất thân từ công nông và trí thức cách mạng, đào tạo họ trở thành những cán bộ ưu tú, những tướng lĩnh tài ba để xây dựng quân đội. Người yêu cầu cán bộ phải chịu khó học tập để không ngừng tiến bộ. Người nhấn mạnh: “… các chú phải học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu, v.v.. Tóm lại là học để nâng cao trình độ của người chỉ huy”9.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tướng là người giúp nước”, do đó phải đào tạo đội ngũ cán bộ toàn diện, có đức và tài. Hai mặt đó thống nhất, gắn bó với nhau, tạo thành nhân cách của người cán bộ. Nếu có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Ngược lại, có tài mà không có đức là người vô dụng. Nhấn mạnh đến mặt đạo đức, Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”10. Trên cơ sở yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, Người cũng rất coi trọng việc bồi dưỡng tri thức quân sự cho cán bộ quân đội. Điều đầu tiên Người nêu trong đạo làm tướng là “Trí”. Trí là “phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng”11. Trí là trình độ giác ngộ chính trị, là tài thao lược, là năng lực lãnh đạo, chỉ huy, biết cách giáo dục chiến sĩ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Để có được điều đó, người cán bộ phải phấn đấu, rèn luyện không ngừng, bởi “sự học hỏi là vô cùng”12, “dốt nát cũng là kẻ địch”13. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn cán bộ về mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa người chỉ huy với cấp dưới. Người ví cán bộ như đầu óc, đội viên như chân tay trong một cơ thể thống nhất. Cán bộ có thân “đội viên như chân tay, đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt”14. Người giải thích rằng, cán bộ dù là đại đoàn trưởng, trung đoàn trưởng hay tiểu đoàn trưởng cũng chỉ là những người đặt kế hoạch và điều khiển trận đánh. Lúc ra trận, việc đặt mìn, phá lô cốt đều do tay anh em đội viên làm. Do đó, Người yêu cầu đội ngũ cán bộ các cấp phải hiểu tâm tư, nguyện vọng, hết lòng quan tâm chăm lo đến đời sống tinh thần, vật chất của bộ đội: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa đủ cơm ăn, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”15.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi quá trình rèn luyện cán bộ là quá trình rèn luyện trong đấu tranh chính trị, trong chiến đấu với quân thù, trong vận động quần chúng và xây dựng nâng cao sức mạnh chiến đấu. Bản lĩnh chính trị, năng lực chỉ huy của người cán bộ là sự tích lũy trí tuệ và là kết quả của sự hoạt động thực tiễn đấu tanh giữa ta và địch. Thực tiễn hơn 60 năm qua, quân đội ta đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ trung thành, có tài thao lược, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Nghiên cứu về đội ngũ cán bộ quân đội ta, Gabrien Bonê đã viết: “Họ bao quát không những nghệ thuật quân sự mà còn hiểu biết tất cả những vấn đề như chính trị, kinh tế và đạo đức dưới góc cạnh của chủ nghĩa Mác. Khoa học, khéo léo, mềm dẻo, tài năng đặc biệt của họ cho phép họ hoàn thành tất cả mọi nhiệm vụ, giải quyết mọi vấn đề quân sự rất phức tạp”16. Có được đội ngũ cán bộ trung thành, tài trí là nhờ khéo giáo dục, huấn luyện cán bộ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Gắn liền với việc chăm lo xây dựng về chính trị, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở để xây dựng các mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm chăm sóc đời sống quân đội và hậu phương quân đội, coi đó là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên nhân tố chính trị -tinh thần, bảo đảm cho quân đội làm tròn mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Người đánh giá cao sự cống hiến của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Người dành tình cảm thương yêu bao la đối với những người hoạt động trong điều kiện và môi trường “gian khổ”, “ăn gió nằm sương”, trải qua những trận “mưa bom bão đạn”, sẵn sàng hy sinh tính mệnh “để giết giặc cứu nước bảo vệ đồng bào”. Người còn nói: “Đồng bào biết rằng: các chiến sĩ trong bộ đội ai cũng có cha mẹ anh em, ai cũng có gia đình thân thích. Nhưng họ đã hy sinh tiểu gia đình của họ, họ đã không ngại rời cha mẹ, bỏ quê hương, ra xông pha bom đạn để phụng sự đại gia đình dân tộc, gồm cả gia đình của mỗi đồng bào. Do đó, nhân dân ta biết ơn và yêu mến bộ đội17.

Người đặc biệt chăm lo bảo đảm thực hiện tốt các chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội. Đó là làm sao cho bộ đội có đời sống vật chất, tinh thần tốt, đủ sức khoẻ làm tròn nhiệm vụ. Theo Người, “chiến sĩ hy sinh xương máu để giữ gìn đất nước, bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc”. Vì vậy, “Muốn cho quân đội ta quyết chiến quyết thắng hơn nữa thì phải săn sóc đời sống vật chất của họ”18. Trong nội bộ quân đội, phải làm thế nào để một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải phải đi thẳng đến chiến sĩ. Người quan tâm đến đời sống thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ; căn dặn các cấp, các ngành, các địa phương “chấp hành chu đáo chính sách của Đảng và Chính phủ đối với thương binh và liệt sĩ, để anh em thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ được ổn định hơn nữa trong công tác và trong đời sống”19. Đối với những quân nhân phục viên, Người đánh giá cao sự cống hiến và nêu rõ rằng, anh em là những người “đã đánh giặc bao năm, như vậy là đã kinh qua một lịch sử vẻ vang”; về chính sách ưu đãi đảng và Chính phủ sẽ chú ý hơn nữa”20. Những quan điểm, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên lực lượng thanh niên sẵn sàng làm nghĩa vụ quân sự và phát huy khả năng lao động của hàng triệu người đã hoàn thành nhiệm vụ phục vụ tại ngũ tham gia xây dựng và bảo vệ hậu phương.

Tư tưởng phát huy cao độ nhân tố con người, “người trước, súng sau” là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng quân đội, đào tạo cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chiến lược “trồng người” của Người đã tạo nên những con người mới, đội ngũ cán bộ trung thành, tài trí, lớp lớp chiến sĩ dũng cảm, kiên quyết, thông minh, đáp ứng mọi yêu cầu và thử thách trong chiến tranh cách mạng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Ngày nay, quân đội ta không ngừng phát triển lớn mạnh. Bên cạnh vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự ngày càng được trang bị hiện đại thì việc xây dựng phẩm chất chính trị, ý chí quyết tâm cao, bồi dưỡng tri thức quân sự, rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật chiến đấu tốt cho cán bộ và chiến sĩ vẫn là yếu tố quyết định. Vì vậy, rèn luyện con người, đào tạo cán bộ vẫn là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng quân đội, để quân đội ta tiếp tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, mãi mãi xứng danh với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

Nguồn: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng quân đội,

Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.173-185.

––––––––––––––

* Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử tư tưởng quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.3, tr.l.

2. Bác Hồ Hồi ký, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001, tr.148.

3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.161.

5. Lê Quảng Ba: Bác Hồ và Đội du kích Pác Bó, Nxb. Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 1994, tr.l06.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.507.

7, 8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.240, 269.

9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.319.

10, 11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.252-253, 479.

12, 13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 379.

14, 15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.109, 207.

16. Tạp chí Lịch sử quân sự, số 18, tháng 8-1986, tr.61.

17. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.427.

18, 19, 20. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.464; t.9, tr.485; t.8, tr.306.

 
   0   Tổng số:
  Gửi ý kiến phản hồi
275