Ban lãnh đạo chính trị – quân sự Mỹ coi không gian thông tin là lĩnh vực lợi ích quan trọng sống còn của mình, nếu kiểm soát được nó sẽ cho phép nước Mỹ đạt được các mục tiêu chiến lược thống trị toàn cầu. Tận dụng ưu thế của mình trong lĩnh vực phát minh, sản xuất, sử dụng kỹ thuật máy tính và bảo đảm lập trình, các phương tiện viễn thông và liên lạc, người Mỹ đang nuôi tham vọng thiết lập sự kiểm soát hạ tầng thông tin quốc

Ở đây bảo đảm ưu thế về thông tin trước đối phương được hiểu là sử dụng tất cả những lực lượng, phương tiện mà quân đội Mỹ hiện có để thu thập, xử lý, bảo vệ, truyền bá và sử dụng thông tin một cách có hiệu quả, đồng thời tác động vào các hạng mục công trình kỹ thuật thông tin của đối phương và tác động thông tin – tâm lý vào ban lãnh đạo nhà nước và quân đội, cũng như các quân nhân và dân chúng của quốc gia thù địch.

Ngày 9 tháng 10 năm 1998 Hội đồng tham mưu trưởng Các lực lượng vũ trang Mỹ đã ban hành Hướng dẫn JP 3-13 “Học thuyết tác chiến thông tin” (Joint Doctrine for Information Operations), một thời gian khá dài về sau đã trở thành định hướng cho các lực lượng vũ trang quốc gia trong lĩnh vực đấu tranh thông tin. Trong đó nhận định rằng, “thông tin đã bắt đầu không chỉ là mục tiêu tác động, mà còn là vũ khí tác động, đồng thời còn là phạm vi hay lĩnh vực hoạt động của Các lực lượng vũ trang Mỹ”.

Theo các luận điểm của Hướng dẫn, cuộc tiến công thông tin được coi là “bất kỳ cuộc tiến công bí mật nào vào các mạng thông tin hay âm mưu sao chép các dữ liệu, các khuyến cáo hoặc chỉ dẫn của Các lực lượng vũ trang Mỹ”. Trong văn kiện này định nghĩa, cuộc chiến tranh thông tin – “đó không phải chỉ là tác động vào các mạng máy tính, đó là những hoạt động (chiến dịch) nhằm trực tiếp chế áp (làm sai lệch, tiêu hủy) hoặc sử dụng thông tin cho các mục đích của mình dưới mọi hình thức, là tác động vào quá trình chuyển phát thông tin bằng mọi phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó có việc tác động vào dung lượng và nội dung, vào toàn bộ các hệ thống bảo đảm thông tin của nó và các mạng máy tính, vào những chương trình bảo đảm thuật toán, các máy móc, phương tiện lý học và mạng, vào thiết bị lưu trữ và nhân bản dữ liệu, vào nội dung các chỉ dẫn sử dụng chúng, vào hành động và nhận thức của lực lượng phục vụ các hệ thống, phương tiện và mạng này”.

Chiến tranh thông tin Đa miền

Trong quá trình đánh giá vai trò của chiến tranh thông tin, đã tiến hành phân tích so sánh những tổn thất về mặt tài chính khi sử dụng các phương tiện tiến hành chiến tranh truyền thống và các hình thức chiến tranh thông tin. Đồng thời, một số chuyên gia nghiên cứu Mỹ đã cho rằng, chiến tranh thông tin đang trở thành “cuộc chiến có giá rẻ” (War on the Cheap), bởi vì 1 triệu USD và 20 người, nếu thực hiện các cuộc tiến công mạng máy tính, có thể bảo đảm thắng lợi tương đương với những hoạt động của một cụm quân nhiều ngàn người. 10 triệu USD và 10 người có thể phá vỡ tổ chức hạ tầng thông tin quân sự của đối phương trong vòng 1 tuần, còn 30 triệu USD và 100 người có thể loại khỏi vòng chiến đấu hạ tầng thông tin quốc gia của địch, mà để khôi phục nó đòi hỏi phải mất nhiều năm. Những ý tưởng này trong quá trình tiến hành các chiến dịch của thế kỷ XXI đã được những người đại diện không chỉ của lực lượng không quân, mà của cả các quân chủng khác trong lực lượng vũ trang Mỹ, cũng như chính quyền Mỹ công khai tuyên bố.

Cả ban lãnh đạo đất nước cũng chủ động cùng với Lầu năm góc bắt tay vào hoàn thiện cơ sở quan niệm của việc tiến hành chiến tranh thông tin. Vào cuối năm 1998 Nhà trắng đã đệ trình “Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ”, trong đó vị trí đáng kể được dành cho những vấn đề bảo vệ hạ tầng thông tin của nhà nước. Năm 1999 bộ máy cố vấn của Bộ Quốc phòng Mỹ đã ban hành tài liệu “Luật pháp quốc tế trong các hoạt động thông tin” đánh giá phương diện luật học và phân tích kinh nghiệm pháp lý quốc tế có liên quan tới việc tiến hành các cuộc chiến tranh thông tin.

Kết thúc cuộc chiến tranh vùng Vịnh (Persian) năm 1991, chiến tranh thông tin và các hình thức tiến hành nó (chiến dịch tiến công thông tin và chiến dịch phòng ngự thông tin) đã bắt đầu có vai trò đáng kể trong việc cải cách Các lực lượng vũ trang Mỹ. Vào năm 2000 để thay thế cho văn kiện khái niệm của Hội đồng tham mưu trưởng mang tên “Tầm nhìn thống nhất-2010” (Joint Vision 2010), đã ban hành phương án mới của nó là “Tầm nhìn thống nhất-2020” (Joint Vision 2020), với yêu cầu chủ yếu – nước Mỹ phải giành được ưu thế trước mọi đối tượng tác chiến.

Bản chất của chiến dịch thông tin được văn kiện này xác định là, “tác động hiệu quả vào thông tin và các hệ thống thông tin của đối phương, đồng thời bảo vệ toàn diện thông tin và các hệ thống thông tin”. Biên bản ghi nhớ cũng nêu rõ, “mọi hoạt động trong những tình huống ngoài chiến đấu hoặc không rõ ràng, nhằm bảo vệ thông tin và các hệ thống thông tin của Mỹ, cũng như những hoạt động nhằm gây tác động tiêu cực cho các khả năng và quá trình do thám (trinh sát) thông tin và các hệ thống thông tin do địch tiến hành đều được coi là các chiến dịch thông tin. Chúng có thể được tiến hành vào thời bình, trong tình hình khủng hoảng và trong quá trình diễn biến của mọi cuộc xung đột”.

Trong hội nghị lần thứ XI của các lực lượng liên minh về những vấn đề của công tác chỉ huy chiến đấu vào năm 201, Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang Mỹ đề xuất một vài khía cạnh mới của việc tiến hành chiến tranh điều khiển học trong không gian thông tin:

- Thảo luận những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực nhận thức về chiến dịch thông tin và liên quan tới việc bảo đảm tính bền vững, ổn định của thông tin;

- Xác định những điều kiện quan trọng nhất bảo đảm tiến hành thắng lợi các hoạt động chiến đấu trong không gian điều khiển học;

- Xây dựng những nguyên tắc tổ chức và tiến hành chiến tranh thông tin và chiến tranh điều khiển học nói riêng;

- Quy định mối liên hệ giữa chiến tranh thông tin với các vùng miền ảo và thực của không gian chiến đấu thực tế.

Sơ đồ mẫu phản ánh vai trò và vị trí của tác chiến điều khiển học  trong cấu trúc các chiến dịch thông tin của lực lượng vũ trang Mỹ

 

Giới lãnh đạo chính trị  – quân sự nước ngoài đã hoàn toàn nhất trí và sử dụng quan niệm chiến tranh thông tin do Lầu năm góc soạn thảo. Minh chứng cho điều này là, ngay từ năm 1998, Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang liên hiệp NATO đã ban hành “Học thuyết tác chiến thông tin MC-442”, mà về thực chất đã trình bày “Học thuyết chiến tranh thông tin của Mỹ”. Ngoài ra, vào năm 1993 Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang Anh quốc đã thông qua học thuyết SDS 23/93 “Đấu tranh với các hệ thống chỉ huy chiến đấu”. Học thuyết này xác định, kể cả những hoạt động chính trị, phi quân sự trong lĩnh vực thông tin cũng sẽ là một trong số những hình thức tiến hành hoạt động chiến đấu. Vào tháng 1 năm 2000, Bộ trưởng Bộ các lực lượng vũ trang hoàng gia Anh John Spellaz trong bài phát biểu của mình trước thành phần lãnh đạo lực lượng vũ trang đã nhận định: “Trong các chiến dịch hiện nay, thắng lợi càng ngày càng phụ thuộc không chỉ đơn thuần là ưu thế về xung lực (hỏa lực), mà vào việc giành và giữ được ưu thế về thông tin”.

Cùng với đó, các quốc gia kém phát triển hơn về mặt công nghệ, cũng như những nước không có lực lượng vũ trang cơ động và được trang bị tốt, triển khai lớn trong thời bình, đang xây dựng khái niệm đấu tranh thông tin có tính tới những khả năng hiện có của các cấu trúc sức mạnh ở nước mình, cũng như trình độ phát triển khoa học và công nghiệp. Bản chất của những khái niệm này là sử dụng các nguyên tắc tiến hành hoạt động chiến đấu phi đối xứng, cho phép tạo ra ưu thế ở cấp chiến thuật, và đôi khi ở cấp chiến dịch và chiến lược. Điều này xảy ra nhờ tìm được và lợi dụng những khâu dễ bị tổn thương trong hệ thống thông tin, cũng như trong các hệ thống và tổ chức chỉ huy lực lượng vũ trang của đối tượng tác chiến tiềm tàng. Hiện nay trong số các quốc gia như thế có thể kể ra trước hết là CHND Trung Hoa với dân số hàng tỷ người, đang có lực lượng vũ trang lớn, nhưng còn kém phát triển về công nghệ.

Như vậy, đấu tranh với những hệ thống chỉ huy chiến đấu theo điều lệnh của lực lượng vũ trang Mỹ và các nước chủ đạo, trên thực tế đã trở thành một trong những phương pháp tiến hành chiến tranh thông tin. Các hợp phần của cuộc chiến tranh này là những chiến dịch tâm lý, tung ra thông tin quân sự giả, ngụy trang chiến dịch và đấu tranh vô tuyến điện tử. Các luận điểm của những văn kiện mang tính chất khái niệm về xây dựng lực lượng vũ trang của những quốc gia chủ đạo, và luận điểm chính là sử dụng bộ đội (lực lượng) trong thực tiễn, trong các cuộc xung đột thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI cho thấy, cuộc chiến tranh thông tin có thể được bắt đầu mà không cần phải tuyên chiến giữa các quốc gia và được tiến hành, bao trùm các khu vực cũng như những lãnh thổ rộng lớn, khu vực hoạt động chiến đấu và chiến trường, dưới dạng chiến dịch thông tin trong tất cả các giai đoạn: thời bình, giai đoạn khủng hoảng trầm trọng của tình hình, trong quá trình các cuộc xung đột quân sự và phi quân sự toàn cầu giữa các quốc gia và sau khi kết thúc các hoạt động chiến đấu, các chiến dịch kiến tạo hòa bình hay nhân đạo.

Ban lãnh đạo chính trị – quân sự Mỹ tới năm 2000 đã củng cố bằng luật pháp và về cơ bản đã hoàn thiện việc xây dựng trên thực tế các hình thức và phương pháp tiến hành chiến tranh thông tin quan trọng nhất, cả trong các chiến dịch của lực lượng vũ trang Mỹ, cũng như những chiến dịch hiệp đồng với các lực lượng vũ trang đa quốc gia. Việc đưa các khái niệm chiến lược, chiến dịch và thuật ngữ mới như “chiến tranh thông tin”, “các chiến dịch thông tin”, “ưu thế về thông tin” vào hệ thống từ vựng quân sự quốc gia chính thức của Mỹ và các nước chủ đạo, trong bối cảnh đấu tranh vũ trang đồng nghĩa với chuyển trọng tâm đối đầu từ những địa hạt đấu tranh truyền thống với mọi đối tượng tác chiến sang lĩnh vực tri thức – thông tin và kỹ thuật – thông tin.

Chẳng hạn như, nhà nghiên cứu chính trị Mỹ O.Morton, khi xác định ảnh hưởng của công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão đối với cuộc đấu tranh vũ trang đã nói: “Tất cả các cuộc chiến tranh đều mang tính chất đối đầu về thông tin, hiện nay nếu thuật ngữ “chiến tranh thông tin” có nghĩa là một điều gì đó còn mới mẻ, thì đó chính là việc sử dụng thông tin này và các lực lượng chiến tranh thông tin với vai trò thay thế cho những lực lượng và phương thức tiến hành chiến tranh truyền thống, chứ không phải là bổ trợ cho chúng”. Cựu Chủ tịch Ủy ban quốc gia về tình báo, trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về các vấn đề an ninh quốc tế Joseph  Nye đã khẳng định như sau: “Động lực của một cuộc cách mạng mới trong lĩnh vực quân sự là cuộc cách mạng thông tin do nó sản sinh ra”.

Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đang dẫn tới nhưng thay đổi to lớn về nội dung và vai trò của đấu tranh thông tin. Như vậy, có thể đạt được ưu thế về thông tin trước bất kỳ đối tượng tác chiến nào bằng cách cải thiện về phương diện khả năng tác chiến và chiến đấu của Các lực lượng vũ trang Mỹ, cũng như nhờ phát triển hệ thống chỉ huy chiến đấu của các lực lượng liên quân nước này.

Theo nhận định của các chuyên gia nghiên cứu quân sự Mỹ, các lực lượng vũ trang nước này đã tạo ra được ưu thế tuyệt đối, sẽ có khả năng tiến hành những hoạt động chiến đấu mau lẹ, được bảo đảm toàn diện, hiệp đồng với bộ đội của các đồng minh trong mọi điều kiện, bảo đảm sử dụng lực lượng một cách dễ dàng, thuận lợi trong mọi môi trường (trong vũ trụ, trên biển, trên bộ trên không và trong không gian thông tin). Chỉ có thể đạt được ưu thế cần thiết trước đối tượng tác chiến tiềm tàng trong mọi tình huống ngang cơ nhau khi ưu thế về thông tin được chuyển hóa thành những tri thức, kỹ năng cần thiết, sự thông hiểu tình hình và nhanh hơn đối phương trong việc hạ quyết tâm.

Vào tháng 10 năm 2003, Bộ tư lệnh Các lực lượng vũ trang Mỹ, với mục đích tiếp tục hoàn thiện và khắc phục nhưng khiếm khuyết trong công tác tổ chức và tiến hành chiến tranh thông tin, đã thông qua “lộ trình” – kế hoạch tiến hành chiến dịch thông tin theo giai đoạn, trong đó đặt ra những nhiệm vụ như sau:

- Bảo đảm việc xây dựng trong quân đội Mỹ nền tảng cấu trúc để nắm vững và hiểu đúng mục tiêu, nhiệm vụ của các chiến dịch thông tin, phương pháp tổ chức và tiến hành chúng;

- Quy định thứ tự, phương pháp chuyển giao thẩm quyền chỉ đạo, xây dựng kế hoạch và hiệp đồng các lực lượng được trưng dụng để tiến hành chiến dịch thông tin cho các bộ tư lệnh chiến đấu;

- Củng cố những cơ quan bảo đảm công tác kiểm tra, sự an toàn của quá trình tiến hành các chiến dịch thông tin và khảo sát phân tích tính hiệu quả của chúng;

- Xây dựng các chương trình tổ chức và chỉ đạo các chiến dịch thông tin của lực lượng vũ trang Mỹ. Đồng thời, nâng cao trình độ huấn luyện và đào tạo về sử dụng các cơ quan, lực lượng và phương tiện tác chiến thông tin của sỹ quan, binh lính các lực lượng liên quân;

- Chuẩn bị các chỉ thị (soạn thảo văn kiện) về đổi mới cơ cấu tổ chức Các lực lượng vũ trang Mỹ, để bảo đảm cho việc sử dụng toàn bộ các khả năng tác chiến của những lực lượng này trong quá trình tiến hành các chiến dịch thông tin trong những hoạt động chiến đấu thế kỷ XXI.

Ngày 13 tháng 1 năm 2006, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Các lực lượng vũ trang Mỹ phê chuẩn hướng dẫn mới cho tất cả các quân chủng của lực lượng vũ trang – “Tác chiến thông tin – JP 3-13”, trong đó phân tích các nguyên tắc cơ bản của việc tiến hành các chiến dịch thông tin và thực hiện những yêu cầu của biên bản ghi nhớ “Tầm nhìn thống nhất – 2020” ban hành năm 2000 và “Lộ trình tác chiến thông tin” năm 2003 đã được củng cố bằng luật pháp.

Trong lời đề tựa của Hướng dẫn, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng chỉ rõ, “học thuyết tác chiến thông tin thống nhất cần phải được tất cả các tư lệnh của các bộ chỉ huy chức năng, khu vực và những bộ chỉ huy thuộc quyền của các đơn vị tác chiến thống nhất, các thành phần lực lượng vũ trang của các bộ chỉ huy này và tư lệnh của tất cả các quân chủng lực lượng vũ trang Mỹ thực hiện”.

Hướng dẫn JP 3-13 năm 2006 hủy bỏ một loạt luận điểm đã lạc hậu của Hướng dẫn JP 3-13 năm 1998 và khẳng định những yêu cầu mới đối với việc tổ chức, xây dựng kế hoạch và tiến hành tác chiến thông tin của Các lực lượng vũ trang Mỹ trong những chiến dịch thế kỷ XXI.

Những thay đổi chính trong Hướng dẫn liên quan tới các chiến dịch thông tin năm 2006, tựu trung lại gồm các điểm sau:

- Văn kiện đã được chỉnh lý cho phù hợp với những thay đổi trong các luận điểm nói về xây dựng kế hoạch chỉ huy chiến đấu theo nội dung của “Lộ trình tác chiến thông tin” ban hành ngày 30 tháng 10 năm 2003;

- Chấm dứt sử dụng các thuật ngữ “chiến dịch thông tin tiến công” và “chiến dịch thông tin phòng ngự”, đồng thời giữ nguyên luận điểm nói rằng, chiến dịch thông tin được tiến hành nhằm giải quyết những nhiệm vụ tiến công, cũng như phòng ngự;

- Loại bỏ thuật ngữ “chiến tranh thông tin” khỏi Hướng dẫn về tác chiến thông tin (nghĩa là khái niệm nói trên đã bị loại khỏi kho từ vựng quân sự, nhằm tách rời nó với chính trị và bằng cách đó che giấu sự tồn tại của nó);

- Đưa vào sử dụng những khái niệm và thuật ngữ mới: “những hợp phần chủ yếu (hạt nhân) của chiến dịch thông tin”, “ các yếu tố / hợp phần bảo đảm cho tác chiến thông tin” và “những hoạt động gắn liền với (đồng hành với) quá trình tiến hành các chiến dịch thông tin”; chẳng hạn, những hợp phần chính của tác chiến thông tin gồm: đấu tranh điện tử; các hoạt động trong mạng máy tính; các chiến dịch tâm lý, ngụy trang chiến dịch và tung ra thông tin quân sự giả;

- Quy định: các hoạt động trong mạng máy tính có thể gồm những cuộc tiến công mạng máy tính của đối phương, bảo vệ mạng máy tính của lực lượng vũ trang Mỹ, tiến hành trinh sát (phát hiện) các mạng hiện có của đối phương, thâm nhập vào đó và sử dụng cho lợi ích của Mỹ;

- Các hoạt động đặc biệt nhằm bảo đảm cho tác chiến thông tin gồm: tiến hành trinh sát (khai thác thông tin) qua không ảnh và các phương tiện quang học trên chiến trường, tác động lý học (tiến công), bảo đảm độ vững chắc của thông tin, bảo đảm tác chiến thông tin chống trinh sát (phản gián);

- Những hoạt động gắn với quá trình tiến hành các chiến dịch thông tin gồm: hoạt động hỗ trợ ngoại giao công khai, hoạt động liên hệ với công chúng và các hoạt động quân – dân;

- Áp dụng khái niệm và xác định nội dung thuật ngữ “không gian thông tin” (information environment), nhận định ảnh hưởng và mối liên hệ của nó tới việc tiến hành các chiến dịch thông tin và quân sự khác;

- Áp dụng khái niệm và xác định nội dung thuật ngữ “truyền thông chiến lược” (strategic communication), đồng thời quy định mối quan hệ của nó với tác chiến thông tin;

- Trong Hướng dẫn xuất hiện 1 chương mới – “Bảo đảm trinh sát cho tác chiến thông tin và các hệ thống viễn thông”;

- Mở rộng 1 chương về xây dựng kế hoạch tác chiến thông tin với việc sử dụng nhiều yếu tố của nó trong quá trình chuẩn bị các chiến dịch quân sự của những lực lượng chung và chi tiết hóa những khía cạnh sau: thông báo tình hình các lực lượng tác chiến thông tin, nhiệm vụ, lực lượng và các biện pháp tác động thông tin, mức độ hiệu quả của tác động thông tin. Các vấn đề hiệp đồng và phối hợp liên ngành trong quá trình xây dựng kế hoạch tác chiến thông tin được đặc biệt chú ý;

Bổ sung thêm phần bảo đảm an ninh thông tin trên chiến trường trong quá trình xây dựng kế hoạch chung về các hoạt động chiến đấu, cũng như tác chiến thông tin;

- Đưa vào một chương mới về xây dựng kế hoạch tác chiến thông tin trong các chiến dịch của lực lượng đa quốc gia.

Trong Hướng dẫn JP 3-13 năm 2006 xác định, “chiến dịch thông tin là một hợp phần của chiến dịch quân sự (của các hoạt động chiến đấu) và bảo đảm cho thắng lợi của chiến dịch”. Đồng thời nhận định: Mục tiêu chính của chiến dịch thông tin là – giành và giữ ưu thế về thông tin của Các lực lượng vũ trang Mỹ và những đồng  minh của nước này trước đối phương. Ngoài ra, còn nhấn mạnh, “ưu thế về thông tin chỉ bảo đảm cho việc đạt được ưu thế trước đối phương khi nó biến (được chuyển hóa) thành ưu thế trong việc hạ quyết tâm (quân sự và chính trị), nhanh hơn địch trong quyết định và hành động.

Trong văn kiện này cũng phản ánh những yếu tố quan trọng liên quan tới việc hoàn thiện công tác tổ chức và tiến hành các chiến dịch thông tin sau đây: 

- Đã xác định, “tác chiến thông tin là – sử dụng phối hợp các lực lượng, phương tiện và phương thức (phương pháp) tiến hành đấu tranh điện tử, các chiến dịch trong mạng máy tính, các chiến dịch tâm lý, ngụy trang chiến dịch và tung ra thông tin quân sự giả, kết hợp với những hoạt động bảo đảm tác chiến thông tin và hoạt động của các cơ cấu (lực lượng) sức mạnh khác, gắn với (song hành với) quá trình tiến hành những chiến dịch như thế;

- Các nhiệm vụ chủ yếu của tác chiến thông tin là gây tác động tiêu cực cho đối phương – làm gián đoạn, tiêu hủy, bóp méo, đánh cắp hoặc sử dụng thông tin có lợi cho mình, cho các hệ thống thông tin và hoạt động của lực lượng địch đang tham gia chuẩn bị, xây dựng và thực hiện quyết tâm, cũng như gây ảnh hưởng phá hoại cho các thiết bị tự động hóa công tác chỉ huy bộ đội và vũ khí của đối phương. Ngoài ra, các chiến dịch thông tin còn cho phép tiến hành những hoạt động thống nhất nhằm bảo vệ thông tin và hạ tầng thông tin của Các lực lượng vũ trang Mỹ và nước này về tổng thể.

Tới thời điểm hiện nay, Nhà Trắng đã xây dựng xong chiến lược thông tin quốc gia cho thời bình, cũng như thời chiến. Bản chất của nó là bảo đảm tiến hành tác chiến thông tin với đối phương một cách hiệu quả, cũng như sự vững chắc của thông tin và hạ tầng thông tin nước Mỹ.

Sơ đồ các lớp tiến hành Chiến tranh Thông tin
 

Theo những văn kiện điều lệnh cơ sở của lực lượng vũ trang Mỹ được ban hành trong giai đoạn từ năm 1988 tới năm 2006, các nguyên tắc chủ yếu của khái niệm tác chiến – chiến lược “Các chiến dịch thông tin” đã được gộp lại thành 4 cấp độ chính:

- “Vô hiệu hóa” hoặc “tiêu diệt đầu não” của đối phương. Những mục tiêu tác động thông tin chủ yếu trong trường hợp này là các hệ thống chỉ huy, liên lạc, trinh sát, đấu tranh điện tử và lực lượng tham gia thu thập, xử lý và phân tích thông tin, đánh giá tình hình, hạ quyết tâm, xây dựng kế hoạch và truyền đạt thông tin tới các cấp chỉ huy thích hợp.

- “Tăng cường tiềm lực quân sự (sức mạnh chiến đấu) của lực lượng vũ trang”. Dựa trên 2 nguyên tắc – “được cung cấp thông tin” và “ tính linh hoạt” (cung cấp thông tin kịp thời và chính xác trong phạm vi thời gian, gần với thời gian thực).

- “Tính bền vững của thông tin, của các hệ thống thông tin và hệ thống chỉ huy”. Cho phép hoạt động ổn định, chắc chắn và an toàn vô sự trong mọi tình huống.

- “Vượt trước” (hạ quyết tâm và hành động nhanh hơn). Cho phép sử dụng tập trung và linh hoạt lực lượng, bảo đảm vượt trước đối phương.

Vào tháng 11 năm 2012, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Các lực lượng vũ trang Mỹ, trung tướng Kertis M. Skaparroty phê chuẩn bản chỉnh lý của Hướng dẫn JP 3-13 “Các chiến dịch thông tin”, trong đó tái thẩm định những quan điểm của ban lãnh đạo quân sự Mỹ về chuẩn bị và tiến hành các chiến dịch thông tin, điều chỉnh các mục tiêu, nhiệm vụ và những nguyên tắc cơ bản của đấu tranh thông tin, chức trách của các chức danh trong công tác chuẩn bị và tiến hành các chiến dịch thông tin vào thời bình cũng như thời chiến.

Hướng dẫn mới nhận định, để đạt được những mục tiêu hoạt động quân sự một cách tốt nhất, các chiến dịch thông tin phải bảo đảm giành và giữ vững được ưu thế về thông tin trước đối phương một cách tuyệt đối và toàn diện. Trong văn kiện này cũng nhấn mạnh, thông tin kịp thời và đáng tin cậy là nguồn sức mạnh chiến lược của lực lượng vũ trang và điều kiện nhất thiết phải có cho việc bảo đảm an ninh quốc gia. Đồng thời, khả năng đánh giá tình hình và hạ quyết tâm chính xác của những người chỉ huy, của các cơ quan tham mưu và sỹ quan, binh lính trên cơ sở thông tin được cung cấp cũng được coi là rất quan trọng.

Theo Hướng dẫn, các chiến dịch thông tin là một tổ hợp những hoạt động được thống nhất về mục tiêu, nhiệm vụ, địa điểm và thời gian, được tiến hành đồng thời và liên tục theo một ý đồ và kế hoạch thống nhất trong quá trình diễn biến của chiến dịch quân sự, nhằm gây ảnh hưởng hoặc cản trở quá trình chuẩn bị, xây dựng và thực hiện quyết tâm chiến đấu của đối tượng tác chiến dự kiến, tiềm tàng hay thực tế, đồng thời, nhằm bảo vệ quân mình trước các hoạt động tương tự của đối phương.

Văn kiện này xác định những yêu cầu đối với các lực lượng liên quân Mỹ trong khi thực hiện các luận điểm của nó, trong quá trình tiến hành những hoạt động bảo đảm thông tin cho các phương tiện sát thương lý học, cũng như tổ chức tác động thông tin vào quá trình hạ quyết tâm hay hạn chế khả năng của địch trong việc sử dụng những phương tiện tiến công của mình.

Các chuyên gia quân sự Mỹ cho rằng, nếu đạt được trình độ phối hợp cần thiết giữa các lực lượng, phương tiện tác chiến thông tin và những phương tiện tiến công của lực lượng vũ trang, thì điều này cho phép bảo đảm ưu thế tuyệt đối trước đối phương trong các chiến dịch thế kỷ XXI.

Ngoài ra, trong Hướng dẫn còn chỉnh lý khái niệm và nội dung thuật ngữ “không gian thông tin”.

Không gian thông tin là tập hợp các lĩnh vực lý học, thông tin và nhận thức có mối liên hệ lẫn nhau, mà trong các giới hạn của chúng những cá nhân đơn lẻ, những nhóm người, những tổ chức và hệ thống nào đó hoạt động dựa vào nó, thu thập (tiếp nhận), phân tích và tổng hợp (xử lý), truyền bá (chuyển phát) thông tin.

Trong hệ thống từ vựng quân sự Mỹ đã xuất hiện thêm một thuật ngữ mới – “Mô hình quan hệ của tác động thông tin”  (Information-Influence Relation Framework), đó là một mô hình phản ánh những khả năng của các lực lượng, phương tiện và phương pháp được sử dụng trong khuôn khổ các chiến dịch thông tin nhằm đạt được ưu thế về địa chính trị.

Theo Hướng dẫn, việc thực hiện khái niệm ưu thế về thông tin được chia ra làm 2 cấp độ chính – toàn quốc và quân sự.

Ở cấp độ toàn quốc dự kiến thực hiện tác động thông tin – tâm lý có định hướng chủ yếu nhằm vào ban lãnh đạo cấp cao của đối phương, cũng như của các nước đồng minh. Các phương pháp (hình thức) của nó có thể là: những hành động về chính trị, ngoại giao và kinh tế; các chiến dịch bảo đảm thông tin, hỗ trợ về chính trị và kinh tế cho các nhóm và phong trào đối lập; thâm nhập các bộ máy điều hành nhà nước và chỉ huy quân đội; những hoạt động phá hoại và bóp méo các nguồn thông tin cũng như làm cho địch mất phương hướng (ngụy trang chiến lược) và bảo vệ các nguồn thông tin của mình.

Ở cấp độ quân sự bảo đảm ưu thế về thông tin chủ yếu tập trung vào việc sử dụng tổng hợp lực lượng và phương tiện của Các lực lượng vũ trang Mỹ để thu thập, xử lý, bảo vệ, tán phát và sử dụng thông tin một cách có hiệu quả, đồng thời nhằm tác động vào những mục tiêu kỹ thuật – thông tin của địch và tác động thông tin – tâm lý vào giới lãnh đạo nhà nước, quân đội, vào tầng lớp quân nhân và dân chúng đối phương.

Trong Hướng dẫn cũng chỉ rõ, xây dựng kế hoạch, chuẩn bị và tiến hành có kết quả các chiến dịch thông tin và đánh giá hiệu quả của chúng phụ thuộc ở mức độ đáng kể vào công tác bảo đảm trinh sát.

Cách phân chia những hoạt động của các chiến dịch thông tin thành chiến dịch chính, chiến dịch bảo đảm và chiến dịch có liên quan bị loại ra khỏi văn kiện mới. Theo Hướng dẫn, các hoạt động của tác chiến thông tin bao gồm: tuyên truyền chiến lược, hoạt động của các nhóm điều phối liên ngành, hoạt động quan hệ với công chúng, các hoạt động quân – dân, những chiến dịch trong không gian điều khiển học, bảo đảm thông tin vững chắc, sử dụng khả năng của lực lượng vũ trụ và các phương tiện dùng cho việc bảo đảm tác chiến thông tin, bảo đảm thông tin cho các hoạt động quân sự, bảo đảm trinh sát, tung tin quân sự giả, bảo đảm an toàn (bí mật) cho các hoạt động quân sự và hoạt động thường nhật của bộ đội, các hoạt động kỹ thuật chuyên ngành, phân phối và quản lý việc sử dụng tần số của phổ điện từ, đội ngũ chỉ huy lực lượng vũ trang Mỹ tham gia đối thoại với những người lãnh đạo cử tọa (khán, thính giả, độc giả) nước ngoài nhất định.

Hoàn thiện xong hệ thống thuật ngữ quân sự quân sự, đồng thời tối ưu được hóa thành phần lực lượng và phương tiện sử dụng cho các chiến dịch thông tin, Bộ tổng tư lệnh Mỹ cho rằng, thắng lợi của tác chiến thông tin phụ thuộc vào sự kiên quyết, mau lẹ, hiệp đồng và đồng bộ hóa một cách hiệu quả những hoạt động phù hợp với đối tượng tác chiến, biết vận dụng các đòn bẩy tác động về chính tri, kinh tế và quân sự cần thiết để giành và giữ vững ưu thế về thông tin trước đối tượng tác chiến tiềm tàng.

Vì những mục đích như vậy cần phải tuân thủ 5 nguyên tắc chính sau đây:

1. Bảo đảm mối liên hệ chặt chẽ giữa chính phủ, công luận và lực lượng vũ trang cần thiết để bảo đảm an ninh thông tin quốc gia của nước Mỹ và tiến hành tác chiến thông tin.

2. Tạo ra những điều kiện cho phép giảm thiểu hiệu quả chiến tranh thông tin – tuyên truyền của đối phương bằng biện pháp tiến hành giáo dục, huấn luyện và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu cho sỹ quan, binh lính, phản tuyên truyền và những hoạt động nhằm ngăn chặn tác động như thế đối với lực lượng vũ trang và xã hội.

3. Nâng cao tính hiệu quả của hoạt động phản gián nhờ hoàn thiện phương pháp tiến hành công tác  này, đồng thời ứng dụng các công nghệ tiên tiến để phát hiện và đóng chặt các kênh rò rỉ thông tin.

4. Tổi ưu hóa lực lượng, phương tiện và các phương pháp tác động vào những mục tiêu kỹ thuật – thông tin của đối phương và bảo vệ các phương tiện của mình trước tác động tương tự.

5. Nâng cao khả năng cơ bản của phòng ngự hiệp đồng thê đội sâu của nước Mỹ ở tất cả các cấp nhờ hiệp đồng thống nhất tất cả các nguồn lực của tác chiến thông tin.

Ở nước Mỹ có một guồng máy phấn đấu cho các mục tiêu chính tri, kinh tế và quân sự của nhà nước được tổ chức tốt. Theo nhận định của ban lãnh đạo chính trị quân sự Mỹ, hiện tại và trong tương lai dài hạn, một trong những công cụ xúc tiến các lợi ích quốc gia hiệu quả nhất trong chính sách đối ngoại và bảo đảm an ninh quốc gia là tiến hành các chiến dịch thông tin trong thời bình, cũng như thời chiến. Ngoài ra, việc đánh giá kết quả của những chiến dịch thông tin và hoạt động quân sự mà Các lực lượng vũ trang Mỹ đã tiến hành về cơ bản cho thấy, việc thực hiện những nhiệm vụ riêng biệt hay một tổ hợp các hoạt động đấu tranh thông tin cho phép tránh không phải sử dụng lực lượng vũ trang của mình (kể cả sức mạnh hỏa lực của họ) như trước đây và đạt được mục tiêu đã đặt ra với lượng phương tiện ít hơn, trong khi đó tổn thất về nhân mạng và nguồn tài chính có thể thấp nhất.

Một công trình nghiên cứu về những chiến dịch thông tin của Các lực lượng vũ trang Mỹ giai đoạn đầu thế kỷ XXI được tiến hành đã cho phép rút ra từ đó một loạt điểm chung:

Thứ nhất, ban lãnh đạo chính trị – quân sự Mỹ luôn công khai thực hiện các nỗ lực ngăn chặn chiến tranh. Nhưng cần phải nhận thấy rằng, trong khi thể hiện mong muốn duy trì hòa bình họ vẫn buộc đối tượng tác chiến dự kiến phải chịu những điều kiện bất lợi, không thể chấp nhận được. Đồng thời, họ sử dụng những công cụ của cái gọi là "sức mạnh mềm". Nghĩa là người Mỹ sử dụng các hợp phần đấu tranh thông tin cấp quốc gia, phần lớn tập trung gây sức ép với bên bị đe dọa theo các kênh ngoại giao, kinh tế và thông tin đồng thời với quá trình Các lực lượng vũ trang Mỹ chuẩn bị tác chiến thông tin. Bản thân Các lực lượng vũ trang Mỹ trước thời điểm chiến sự bắt đầu đã chủ động và bí mật sử dụng những cơ quan và lực lượng của nhiều hợp phần tác chiến thông tin, chẳng hạn như tuyên truyền chiến lược và liên hệ với công chúng, cũng như tiến hành hiệp đồng với những đối tác liên ngành, với các tổ chức chính phủ và quốc tế (ví dụ, Bộ ngoại giao, CIA, FBI, Cơ quan đại diện phát triển quốc tế Mỹ, Tổ chức nhân quyền quốc tế).

Các lực lượng vũ trang Mỹ cũng khẩn trương, nhưng âm thầm thực hiện những hoạt động tung tin quân sự giả, tiến hành hoạt động trinh sát – thông tin (trong đó có cả mục đích bảo đảm trinh sát cho tác chiến thông tin), và các chiến dịch điều khiển học.

Các hoạt động tâm lý, theo đặc thù của mình được tiến hành công khai, và như mọi người đều thấy rõ qua những sự kiện tại Ukraine, được đặc trưng bởi việc sử dụng rộng rãi hạ tầng viễn thông và tính chất định hướng vào những cử tọa (khán, thính giả, độc giả) nhất định, và đó chính là ban lãnh đạo (đối tượng tác chiến dự kiến/ hiện hành), bộ chỉ huy và sỹ quan, binh lính, dân chúng đối phương (trung lập, ủng hộ hay thù địch về thái độ đối với những người lãnh đạo), giới lãnh đạo chính trị –  quân sự và cư dân khu vực có thể xảy ra xung đột trong tương lai, chính phủ và dân chúng các nước khác trên thế giới (trong đó có các quốc gia đồng minh, đối tác trong liên minh, trung lập hay thù địch về thái độ với Mỹ), và cả dân chúng nước Mỹ, đều được đặc biệt chú ý. Các phương tiện thông tin đại chúng và mạng Internet toàn cầu được sử dụng với vai trò là những công cụ chủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong lĩnh vực nói trên (tác động được thực hiện thông qua các mạng xã hội, blog, videohosting, v.v).

Thứ hai, sau khi những hoạt động chiến đấu đã nổ ra Các lực lượng vũ trang Mỹ tích cực sử dụng toàn bộ những khả năng mà họ có trong lĩnh vực tác chiến thông tin. Nếu cho rằng, cả Afghanistan và Iraq, cũng như Libya đều không đủ sức kháng cự vũ trang trước các lực lượng vũ trang Mỹ dù chỉ ở một mức độ nào đó, chứ chưa cần đề cập tới khả năng kháng cự về thông tin, thì có thể nói, những nước này đã trở thành "bãi thử" cho việc hoàn thiện các hợp phần của tác chiến thông tin, phương thức và phương pháp tiến hành nó. Ngoài ra, Bộ tổng tư lệnh Các lực lượng vũ trang Mỹ ngày càng tích cực hơn trong việc tiến hành tung tin quân sự giả sau mỗi chiến dịch, đồng thời không chỉ với đối tượng tác chiến khi đó, mà với cả cộng đồng thế giới.

Các lực lượng vũ trang Mỹ có thể sử dụng hợp phần này hay hợp phần khác của tác chiến thông tin với những đối tượng tác chiến dự kiến khác nhau, phụ thuộc vào tiềm lực của đối phương (kinh tế, kỹ thuật, quân sự, v.v). Chiến dịch thông tin do Mỹ tiến hành chống Syria, mà ở đó bằng những lực lượng và phương tiện Mỹ, đã được sử dụng trong quá trình diễn ra những chiến dịch trong không gian điều khiển học, Các lực lượng vũ trang Mỹ đã "duy trì" thành công cuộc xung đột vũ trang trong nội bộ nước này, đồng thời bảo đảm cho việc tiến hành tác chiến thông tin ở cấp độ quốc gia, cũng như quân đội, cho các nhân viên mật vụ (các tổ chức) của nhiều hợp phần quân sự và dân sự của cộng đồng tình báo Mỹ, cũng chứng tỏ điều này .

Thứ ba, khi kết thúc các hoạt động chiến đấu, đạt được những mục tiêu của mình Bộ tổng tư lệnh Các lực lượng vũ trang Mỹ tích cực sử dụng lực lượng hoạt động quân – dân, cùng tham gia khôi phục hạ tầng các nước. Đồng thời không có kế hoạch tiến hành những hoạt động tác chiến thông tin khác trong giai đoạn này.

Thứ tư, theo những tuyên bố của các nhân vật cấp cao tại Nhà Trắng và theo những văn kiện chủ yếu, để duy trì ngôi vị thống lĩnh thế giới trong thế kỷ XXI, nước Mỹ sẽ phải tích cực hoạt động tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, dĩ nhiên, ở đó Mỹ sẽ xung đột về lập trường với một trong các quốc gia chủ đạo là Trung Quốc. Trong hoàn cảnh này nội dung và tính chất của những hoạt động thông tin của Các lực lượng vũ trang Mỹ, có lẽ sẽ thay đổi. Và ngay từ lúc này trên báo chí công khai đang xuất hiện rất nhiều thông tin về những hoạt động tích cực của các phân đội lực lượng vũ trang cả 2 nước trong không gian điều khiển học, nhằm chống lại nhau. Đồng thời giới lãnh đạo chính trị – quân sự của các quốc gia này đều hiểu rằng, sự phát triển kỹ thuật – thông tin đang diễn ra sẽ dẫn tới xuất hiện những mối đe dọa mới – những khả năng dễ bị tổn thương và mở ra cơ hội giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh điều khiển học cho đối phương.

Một khu vực lợi ích khác, mà ở đó (hay đối với nó) các cơ quan, lực lượng và phương tiện sẽ được sử dụng tích cực hơn, là Bắc Cực. Ngay từ bây giờ, với mục đích gây tác động nhận thức đối với "các đấu thủ" hữu quan trong khu vực, ban lãnh đạo chính trị – quân sự Mỹ và NATO liên tục mở rộng số thành viên tham gia và lực lượng được điều động trong các cuộc diễn tập quân sự được tiến hành tại đây và đưa tin về sự phát triển hạ tầng thông tin của khu vực, như về hòn đảo san hô Sptsbergen, chẳng hạn.

Theo nhận định của chính quyền Mỹ, để nâng cấp tác chiến thông tin thành một hệ thống thống nhất của nhà nước, cần phải liên kết 6 mảng hoạt động chính của nó trong không gian thông tin, đó là: chính trị; học thuyết quân sự; cơ cấu tổ chức; công nghệ; đánh giá thực trạng và triển vọng phát triển của tình hình chính trị và quân sự; giáo dục và đào tạo có định hướng các nhà chuyên môn quân sự và dân sự của lực lượng vũ trang; vượt trước đối phương trong việc hạ quyết tâm chính trị và quân sự; gây ảnh hưởng một cách có hiệu quả để giành và giữ vững ưu thế về thông tin.

Vào tháng 5 năm 2013 Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã đưa vào Chỉ thị thực hiện 3600.01 nhiều điều chỉnh, chẳng hạn như sửa đổi: quy chế lãnh đạo, quyền hạn và chức trách của tất cả các chức danh trong lĩnh vực chuẩn bị, tổ chức và tiến hành tác chiến thông tin; nhiệm vụ của các nhóm chỉ huy thực hiện những hoạt động này, cũng như một số định nghĩa (khái niệm) các hợp phần của tác chiến thông tin.

Tiến hành phân tích toàn diện kinh nghiệm sử dụng lực lượng, phương tiện tác chiến thông tin tại "Đại Trung Đông", Bắc Phi và Trung Á, vào tháng 11 năm 2014 Lầu năm góc đã công bố Hướng dẫn JP 3-13 "Tác chiến thông tin" đưa vào đó những thay đổi và bổ sung. Chúng chủ yếu đề cập tới khía cạnh kỹ thuật và phương pháp luận của việc đánh giá khả năng kiêm nhiệm thông tin của bộ đội, của không gian thông tin và của bản thân tác chiến thông tin.

Trong văn kiện giới thiệu phương pháp đánh giá những hoạt động tác chiến thông tin được tiến hành nhằm bảo đảm cho các lực lượng liên quân thực hiện nhiệm vụ. Ngoải ra, trong đó còn phân tích một cách chi tiết hơn phương pháp đánh giá tình hình tác chiến thông tin, tính hiệu quả của các chiến dịch được trưng dụng riêng biệt, đồng thời đặc biệt chú ý tới việc thường xuyên tiến hành đánh giá nhằm làm rõ và thống kê thông tin không cấp thiết.

Trong quá trình phân tích nội dung cơ bản, tính chất và vai trò của tác chiến thông tin như một hình thức tiến hành các hoạt động chiến đấu mới, đánh giá mức độ của mối đe dọa liên quan tới sự ra đời của nó, nhất thiết phải tính đến một loạt đặc thù phân biệt tác chiến thông tin với những hình thức và phương pháp đấu tranh vũ trang khác:

- Không có những ranh giới rõ ràng (về lãnh thổ, thời gian, không gian);

- Khả năng cùng một lúc bao trùm không chỉ các khu vực hoạt động chiến đấu biệt lập (của mình và đối phương), mà cả những vùng lãnh thổ và mục tiêu quan trọng sống còn có vai trò quốc gia của đối phương;

- Các chiến dịch thông tin có tính chất khu vực, cũng như toàn cầu hoặc cùng một lúc cả khu vực và toàn cầu;

- Tính chất nặc danh và bí mật cao của hoạt động động, khó phát hiện người tiến hành và các phương tiện được hắn sử dụng;

- Khả năng gây ảnh hưởng (đôi khi là ảnh hưởng có tính chất quyết định) tới hiệu quả và thành công của các hoạt động quân sự trực tiếp mà nhiều cụm quân (lực lượng) tiến hành;

- Khả năng bảo đảm cơ bản giành và giữ vững ưu thế về thông tin trước đối phương, gia tăng hiệu quả, giảm thiểu tổn thất và bảo đảm kết thúc chiến dịch thắng lợi;

- Khả năng tạo ra những điều kiện có lợi cho việc thực hiện các mục tiêu quân sự, cũng như chính trị của quốc gia, tác động hỗ trợ  cho đội ngũ sỹ quan, binh lính (bộ đội), cho những người đang tham gia chuẩn bị và thông qua quyết tâm.

Ngoài ra, các chiến dịch thông tin thường diễn ra trước khi bắt đầu những hoạt động chiến đấu (hoạt động khác) của lực lượng vũ trang, hay được tiến hành đồng thời với chúng hoặc sau khiđã kết thúc chúng, cũng như có thể là biện pháp thúc đẩy quá trình chuyển giai đoạn, tiếp tục  hay chấm dứt chiến sự và buộc đối phương từ bỏ những toan tính của mình. Việc xây dựng kế hoạch và tiến hành các chiến dịch thông tin một cách có chất lượng giúp rút ngắn chu trình thời gian chuẩn bị và thông qua quyết tâm, cũng như bảo đảm khả năng vượt trước đối phương trong việc hạ quyết tâm, giảm được thời gian thực hiện những nhiệm vụ chiến đấu riêng biệt và tiến hành chiến dịch nói chung. Đồng thời, những hoạt động chiến đấu trong không gian thông tin hiện nay chưa thể sánh ngang hàng với kinh nghiệm tác chiến – chiến lược tiến hành hoạt động chiến đấu trên bộ, trên không và trên biển.

Theo quan điểm của đội ngũ chuyên gia Lầu năm góc, việc tiến hành những chiến dịch thông tin hạn chế được khả năng sử dụng 50% và nhiều hơn nữa các hệ thống thông tin và mạng máy tính, là điều kiện thúc đẩy các hoạt động chiến đấu nổ ra và tiếp diễn.

Hoàn thiện hệ thống thuật ngữ, biên chế lực lượng và phương tiện được trưng dụng cho các chiến dịch thông tin, Bộ tổng tư lệnh Các lực lượng vũ trang Mỹ cho rằng, kết quả của những chiến dịch như thế phụ thuộc vào sự kiên quyết, mau lẹ, hiệp đồng có hiệu quả và đồng bộ hóa tác động thông tin chung lên đối phương, trưng dụng những tổ chức chính tri, kinh tế và quân sự cần thiết để giành và giữ vững ưu thế thông tin trước đối tượng tác chiến tiềm tàng.

Tác chiến thông tin được tiến hành trong tất cả các giai đoạn của chiến dịch quân sự, gắn liền với việc giải quyết những nhiệm vụ khác, có nhiệm vụ đẩy nhanh việc thực hiện chúng, đồng thời là một trong những hợp phần chủ yếu của chiến dịch quân sự. Bản thân các chiến dịch thông tin cho phép phối hợp những khả năng thông tin kiêm nhiệm của bộ đội (của các lực lượng) và giải quyết nhiều nhiệm vụ khác của chiến dịch nhằm tác động có hiệu quả vào đối tượng tác chiến dự kiến hay hiện tại ở hình thức cần thiết đối với ban lãnh đạo chính trị – quân sự Mỹ và giúp  đạt được những kết quả kỳ vọng.

Tác giả: Đại tá O.Tuliakov, phó tiến sỹ khoa học quân sự

Biên dịch: Đỗ Ngọc Inh

   0   Tổng số:
  Gửi ý kiến phản hồi
832