2/24/2012 9:13:00 AM
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
Cải cách hành chính (CCHC) là yêu cầu khách quan, là nội dung hết sức quan trọng trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của nước ta. Những năm gần đây, CCHC đã trở thành một vấn đề cấp bách, không những được Đảng và Nhà nước ta tích cực chỉ đạo triển khai, mà còn được sự quan tâm của mọi tầng lớp nhân dân.

 Đồng Thế Hiển

                                     Chuyên viên chính Vụ Giáo dục Quốc phòng

Cải cách hành chính (CCHC) là yêu cầu khách quan, là nội dung hết sức quan trọng trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của nước ta. Những năm gần đây, CCHC đã trở thành một vấn đề cấp bách, không những được Đảng và Nhà nước ta tích cực chỉ đạo triển khai, mà còn được sự quan tâm của mọi tầng lớp nhân dân. Thực tiễn 10 năm thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 đã đạt được những kết quả sau:

- Xây dựng và hình thành thể chế quản lý kinh tế phù hợp với quá độ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thể chế mới đã giải phóng và phát triển sức sản xuất, tạo thuận lợi cho tự chủ sản xuất, kinh doanh, cơ hội làm ăn của doanh nghiệp và nhân dân. Phân định một cách cơ bản giữa hành chính và doanh nghiệp, giữa quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh. Nhờ vậy, năng lực sản xuất của xã hội được giải phóng, tạo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nước ta và tăng cường khả năng hội nhập quốc tế. Thể chế mới về tổ chức, nhân sự và cơ chế hoạt động của bộ máy hành chính các cấp được xây dựng phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế. Đồng thời, thể chế về phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng nhà nước, trong giám sát hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở cũng có những đổi mới hết sức quan trọng, thể hiện ở Quy chế và Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở.

- Có sự thay đổi quan trọng về chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, ngành và cơ quan hành chính địa phương các cấp phù hợp với cơ chế mới. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp đã được tinh giảm hơn trước, vận hành đồng bộ và hiệu quả tốt hơn. Phương thức hoạt động, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp đã có những chuyển biến tích cực theo vai trò, chức năng quản lý nhà nước và tiến trình chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN.

- Tạo lập được khung pháp lý cơ bản về quản lý đội ngũ cán bộ, công chức thông qua việc ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Công tác quản lý, sử dụng cán bộ, công chức được thực hiện có nề nếp, từ tuyển chọn, đánh giá, thi nâng ngạch, khen thưởng, kỷ luật, đề bạt đến đào tạo phát triển. Đã lựa chọn được những người có đức, tài vào cơ quan nhà nước, tạo lòng tin của nhân dân vào bộ máy công quyền. Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức được thay đổi theo hướng tích cực thông qua chế độ tiền lương, phân biệt tiền lương theo đặc điểm, tính chất lao động khác nhau của cán bộ, công chức. Đại bộ phận cán bộ, công chức có ý thức tổ chức kỷ luật, hoàn thành nhiệm vụ được giao, có lối sống, phẩm chất đạo đức trong sạch, lành mạnh.

- Xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong trong lĩnh vực ngân sách, tài chính công. Tạo lập được cơ chế động viên, khuyến khích tính năng động, chủ động của chính quyền địa phương trong quản lý và sử dụng ngân sách. Đưa hoạt động của hệ thống cơ quan kiểm toán với vai trò là cơ quan kiểm tra, kiểm soát tài chính công.

Tuy nhiên, CCHC 10 năm qua cũng bộc lộ một số hạn chế, yếu kém sau:

- Trong quá trình điều hành, bộ máy hành chính vẫn mang dấu ấn của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, chưa theo kịp yêu cầu của giai đoạn mới. Chức năng, nhiệm vụ, phân công, phân cấp chưa rõ ràng, chưa phù hợp với cơ chế thị trường. Hệ thống thể chế không đồng bộ, không thống nhất. Thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà, nặng nề, quá chi tiết đã tạo cơ hội cho cán bộ, công chức lạm dụng quyền lực và tham nhũng. Kỷ cương quản lý không nghiêm, nạn lãng phí, tham nhũng chưa bị đẩy lùi, thậm chí có xu hướng trầm trọng.

- Bộ máy hành chính các cấp vẫn cồng kềnh, nhiều đầu mối, nhiều tầng nấc, thiếu tính thống nhất và còn nhiều bất hợp lý, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Sự chỉ đạo, điều hành còn nhiều bất cập, chưa theo kịp yêu cầu mới. Phương thức quản lý vừa quan liêu vừa phân tán, không nắm hết được yêu cầu của dân.

- Năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, phẩm chất của cán bộ, công chức chưa tương xứng với yêu cầu của thời kỳ mới. Phong cách, tác phong của nhiều cán bộ, công chức chưa đúng mức, xử lý tình huống phức tạp còn lúng túng, tình trạng quan liêu, hách dịch, thiếu văn hoá trong giao tiếp còn khá phổ biến. Một bộ phận cán bộ, công chức suy thoái đạo đức, biến chất, lợi dụng chức quyền tham nhũng, buôn lậu, tham ô, làm giàu bất chính. Chế độ tiền lương chưa có tác dụng động viên, khuyến khích cán bộ, công chức tận tâm làm việc, chưa thu hút được nhân tài trong khu vực nhà nước.

- Chưa xác định rõ cải cách tài chính công là một nội dung của CCHC nhà nước và phải được tiến hành đồng bộ với cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức. Chưa ban hành đủ và đồng bộ các chế độ, chính sách, định mức chi tiêu, do đó vẫn còn nhiều trở ngại cho các cơ quan hành chính trong tổ chức thực hiện ngân sách phục vụ cho các nhiệm vụ được giao.

Những hạn chế, yếu kém trên xuất phát từ nguyên nhân cơ bản: sức ỳ của bộ máy rất lớn, nạn quan liêu, tham nhũng quá nặng nề, đã bám rễ sâu vào nền hành chính nước ta, việc loại bỏ nó cần phải có thời gian và rất kiên trì. Nhận thức chưa đầy đủ về đặc điểm, ý nghĩa và tác động của CCHC đối với sự nghiệp đổi mới. Lãnh đạo nhiều Bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương còn coi nhẹ và xếp công tác CCHC sau rất nhiều những công việc được coi là quan trọng, cấp bách khác. Công tác tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và thực hiện thí điểm không được chú ý trong quá trình chỉ đạo thực hiện CCHC. Ngoài ra, chúng ta còn thiếu những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết về CCHC nhà nước trong những năm qua.

Những hạn chế, nguyên nhân trên chính là những rào cản mà công cuộc cải CCHC nhà nước ở Việt Nam đang gặp hiện nay. Chúng ngăn cản quá trình thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đảng ta đánh giá: "Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra, thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân…”[1]. Vì vậy, nhận diện được những đặc điểm cơ bản của CCHC ở nước ta hiện nay sẽ giúp cho các cấp, các ngành nhận thức đúng đắn hơn và có những giải pháp cụ thể, thiết thực đẩy mạnh CCHC góp phần thúc đẩy mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm tiếp theo.  

Thứ nhất, CCHC ở nước ta là cuộc cải cách có nội dung tương đối toàn diện.

Nếu so sánh với cải cách hành chính ở một số nước trên thế giới như: Anh, Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan… thì đây là một đặc điểm riêng có của cải cách hành chính ở Việt Nam. Bởi lẽ, phần lớn các nước đều đã có một hệ thống hành chính tương đối hoàn chỉnh và vận hành phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế - xã hội, đặc biệt là cơ chế thị trường. Từ đó, dẫn đến trong quá trình cải cách, các nước chỉ lựa chọn một số vấn đề, một số nội dung CCHC chứ không cải cách toàn bộ hệ thống nền hành chính.

Trong khi đó, ở nước ta nội dung cải cách hành chính tương đối toàn diện, thể hiện trên các nội dung: cải cách thể chế; cải cách  tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính… Trong tình hình cụ thể của đất nước ta hiện nay, mỗi nội dung cải cách khi triển khai lại bao gồm rất nhiều vấn đề, vấn đề nào cũng rất cơ bản, đòi hỏi phải giải quyết. Việc xử lý, giải quyết vấn đề nào trước, vấn đề nào sau, hay giải quyết cùng một lúc, đều phải cân nhắc, tính toán thận trọng. Đặc điểm này bị quyết định bởi nội dung và quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế, từ quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Nói cách khác,  nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi phải có một hệ thống hành chính nhà nước tương ứng, chứ không phải là một nền hành chính tập trung quan liêu bao cấp. Hơn nữa, bản thân nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta cũng đang trong quá trình xây dựng và đến năm 2020 mới định hình xong về cơ bản các thể chế của nó.

Với nội dung toàn diện như trên, dẫn đến hệ quả là CCHC ở nước ta là một quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp, phải tiến hành một cách đồng bộ về nội dung và theo phương thức triển khai từng bước, vững chắc, xác định những trọng tâm, những khâu đột phá cần thực hiện trước theo một kế hoạch và chiến lược lâu dài. Điều quan trọng là CCHC phải luôn đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, không gây xáo trộn để tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Thứ hai, CCHC ở nước ta được đặt trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Đảng và Nhà nước ta xác định, trong tiến trình cải cách Nhà nước Việt Nam phải tiến hành đồng bộ cả cải cách lập pháp, CCHC và cải cách tư pháp. Trong đó, CCHC được xác định là trọng tâm của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nếu so sánh với các nước trên thế giới, thì đây cũng là một đặc điểm hết sức riêng của CCHC ở Việt Nam. Bởi lẽ, nếu không tiến hành đồng bộ các cuộc cải cách này, sẽ xảy ra tình trạng níu kéo, cản trở bước đi của từng cuộc cải cách.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định: "…có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”1, là một trong những đặc trưng mô hình CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng. Đây cũng là yêu cầu khách quan, là đòi hỏi và mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Tính ưu việt của nhà nước pháp quyền XHCN phụ thuộc vào vai trò tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính các cấp từ Trung ương đến chính quyền địa phương. Đường lối, luật pháp đúng đắn và chính sách tốt là điều kiện tiên quyết, nhưng trong đó hành chính lại là khâu quyết định yếu tố thực tiễn. Hành chính là khâu trực tiếp xử lý công việc hàng ngày của nhà nước, giải quyết những nhu cầu cụ thể hàng ngày của nhân dân, cho nên cũng là nơi dễ thể hiện trực tiếp và cụ thể những ưu việt của nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân và cả những hạn chế, yếu kém của bộ máy HCNN như: bệnh quan liêu, cửa quyền, hách dịch, tham nhũng, vô kỷ luật, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân.

Từ đặc điểm này cho thấy, CCHC ở nước ta có một thuận lợi hết sức cơ bản so với các nước khác, đó là đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền là Đảng cộng sản Việt Nam. Việc chuyển tải chủ trương, đường lối của Đảng thành những thể chế pháp lý, tổ chức, bộ máy, nhân sự… trong CCHC đòi hỏi những kỹ năng, trình độ nhất định về mặt kỹ thuật lập pháp, kỹ thuật hành chính. Đồng thời, mọi văn bản pháp luật, văn bản hành chính phải thể hiện đường lối, quan điểm của Đảng, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và được thực hiện chủ yếu thông qua nền hành chính nhà nước.

Thứ ba, CCHC ở nước ta còn thiếu những động lực cần thiết thúc đẩy tiến trình cải cách.

Đội ngũ cán bộ, công chức nước ta hiện nay là một lực lượng khá đông đảo, đang tích cực đóng góp khả năng của mình vào hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, đội ngũ này được hình thành và phát triển từ nhiều nguồn khác nhau, trình độ và năng lực chuyên môn không đồng đều. Hiện tượng vừa thừa vừa thiếu cán bộ trong các cơ quan nhà nước vẫn diễn ra phổ biến, "Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chua đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước”1. Nhận định này của Đảng đã cho chúng ta thấy, đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta đông nhưng chưa mạnh, còn thiếu những cán bộ giỏi và chuyên gia đầu ngành, một bộ phận cán bộ, công chức chưa đủ tài, đức để thực thi công vụ.

Cải cách hành chính đòi hỏi những thay đổi, mà trước hết là thay đổi tư duy, phong cách, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức, thay đổi quan hệ giữa cơ quan hành chính với người dân trong giải quyết thủ tục hành chính, thẩm quyền, phân cấp quản lý… Đặc biệt là việc xóa bỏ cơ chế xin - cho, sáp nhập, giải thể tổ chức, tinh giảm biên chế đang làm cho một bộ phận cán bộ, công chức cảm thấy bị thua thiệt về mặt quyền lợi, họ phải làm thêm công việc của người khác nhưng lương vẫn như vậy. Đây là một vấn đề phức tạp, nhạy cảm, bởi nó đụng chạm đến quyền lợi, địa vị của đội ngũ cán bộ, công chức. Cải cách hành chính tác động đến đội ngũ cán bộ, công chức khá toàn diện: từ nhận thức, tư duy đến hành động; từ quy trình, phương pháp đến kết quả; từ lợi ích cá nhân, lợi ích công đến lợi ích chung, lợi ích toàn xã hội. Do vậy, họ sợ thay đổi, sợ mất mát những gì thuộc về lợi ích cá nhân (việc làm, quyền lợi khác), họ phải tính toán, cân nhắc được gì và mất gì.

Vấn đề đặt ra hiện nay là trong tiến trình CCHC đòi hỏi phải nghiên cứu xây dựng chế độ, chính sách thích hợp đối với cán bộ, công chức, sao cho vừa thể hiện rõ trách nhiệm của cán bộ, công chức trong công việc, vừa đáp ứng được yêu cầu cuộc sống của họ. Trong đó, cải cách chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ, chính sách khuyến khích vật chất đối với đội ngũ cán bộ, công chức là một ưu tiên hàng đầu đảm bảo cho xây dựng được một đội ngũ cán bộ, công chức có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Thứ tư, CCHC ở nước ta chịu ảnh hưởng khá lớn của điều kiện xã hội và tâm lý người dân Việt Nam.

Cải cách hành chính nước ta được tiến hành trong điều kiện một xã hội nông nghiệp lạc hậu, cổ truyền, tàn dư của xã hội phong kiến chưa được cải tạo hết, chúng ta lại chưa qua trường học dân chủ, ý thức dân chủ và năng lực thực hành dân chủ chưa tương xứng. Văn hóa pháp luật, văn hóa dân chủ chưa phát triển thành nhu cầu trong lối sống của cá nhân, công dân, công chức và chưa thành chuẩn mực, nề nếp trong phương pháp và phong cách công tác ở cơ quan, công sở. Bên cạnh đó, thói quen của tâm lý, ý thức xã hội lạc hậu, coi lệ làng cao hơn phép nước, trong một số trường hợp và một số cơ quan hành chính "lệ” vẫn có sức mạnh lấn át luật. Tính tự phát tiểu tư sản và lối sống nông dân còn rất mạnh, không chỉ ở nông thôn mà cả ở đô thị; tính tự do vô chính phủ, phản dân chủ dẫn tới gây mất ổn định chính trị - xã hội… vì vậy "Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức…”1.

Hiện nay, một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ công chức và nhân dân còn mang nặng tâm lý bình quân, thụ động, ỷ lại, trông chờ, thoái thác trách nhiệm, tách rời quyền và nghĩa vụ. Cùng với nó là những tệ nạn mới phát sinh từ mặt trái cơ chế thị trường như: thói thực dụng, vụ lợi, thiển cận, háo danh… đã dẫn tới hiện tượng mua bán bằng cấp, mua bán chữ, chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy huân chương, tham nhũng, mất dân chủ… Đây là một lực cản lớn nhất đến tiến trình CCHC hiện nay, đòi hỏi phải được giải quyết nghiêm túc và triệt để mới đảm bảo cho CCHC thực sự là một nội dung quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, một nội dung trọng tâm của xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.  

Từ bốn đặc điểm cơ bản trên cho thấy, CCHC ở Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu cấp bách, xuất phát từ nội tại đất nước, con người, xã hội Việt Nam, cùng với những nhân tố tác động từ bên ngoài, đó là xu thế toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Do vậy, CCHC ở nước ta là một quá trình lâu dài, khó khăn; vừa là vấn đề lý luận phức tạp vừa là vấn đề thực tiễn nóng bỏng. Cải cách hành chính ở nước ta chỉ đạt được hiệu quả cao khi được nghiên cứu một cách toàn diện: từ nhận thức các đặc điểm, xác định quan điểm, nguyên tắc đến việc xây dựng chiến lược nhất quán, dài hạn, có kế hoạch chặt chẽ, kỹ lưỡng và có lộ trình, bước đi cụ thể.

 

Các tin khác