1/19/2010 10:00:00 PM
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
Ngày 14 tháng 6 năm 2005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Quốc phòng và ngày 27 tháng 6 năm 2005, Chủ tịch nước ký lệnh số 12/ 2005/ L/ CTN công bố Luật quốc phòng. Luật có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006.

I. Mục tiêu của Luật Quốc phòng

Mục tiêu cơ bản của Luật quốc phòng là cụ thể hoá việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, các quy định của Hiến pháp năm 1992, các luật Tổ chức nhà nước về tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thành đạo luật khung về quốc phòng, làm cơ sở pháp lý thống nhất cho nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời thể hiện rõ nguyên tắc hoạt động quốc phòng, chính sách quốc phòng của nhà nước, xác định trách nhiệm của các cấp, các ngành và mọi công dân về nhiệm vụ quốc phòng để chủ động, sẵn sàng xử lý kịp thời, có hiệu quả các tình huống xảy ra khi nước nhà bị xâm lược hoặc có các hành động vũ trang bạo loạn, lật đổ hoặc khi có thảm hoạ lớn, dịch bệnh nguy hiểm do thiên nhiên hoặc con người gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc phòng thủ đất nước, làm căn cứ pháp lý khi tiến hành các hoạt động quân sự, chính trị, ngoại giao và các hoạt động khác, góp phần giữ vững ổn định chính trị để xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
 
II-  Bố cục và nội dung của Luật Quốc phòng

1. Bố cục của Luật quốc phòng

Luật quốc phòng gồm 9 chương, 51 điều.

- Chương I. Những qui định chung (từ Điều 1 đến Điều 11): quy định phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; xác định chính sách quốc phòng; quy định nguyên tắc hoạt động quốc phòng; quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng; trưng mua, trưng dụng tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức vì lý do quốc phòng; nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xây dựng khu vực phòng thủ; động viên nền kinh tế quốc dân cho quốc phòng; kết hợp phát triển kinh tế- xã hội với tăng cường quốc phòng.

- Chương II. Lực lượng vũ trang nhân dân (từ Điều 12 đến Điều 18): quy định các thành phần của lực lượng vũ trang; nguyên tắc hoạt động và sử dụng lực lượng vũ trang; tổ chức, hoạt động chế độ phục vụ của Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ; người chỉ huy cao nhất trong Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ; trách nhiệm của Công an nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; bảo đảm hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân.

- Chương III. Giáo dục quốc phòng (từ Điều 19 đến Điều 21): quy định phạm vi, đối tượng, nội dung giáo dục quốc phòng và trách nhiệm tổ chức thực hiện giáo dục quốc phòng.

- Chương IV. Công nghiệp quốc phòng (từ Điều 22 đến Điều 25): quy định vị trí, nhiệm vụ xây dựng công nghiệp quốc phòng; cơ sở công nghiệp quốc phòng và trách nhiệm quản lý công nghiệp quốc phòng.

- Chương V. Phòng thủ dân sự (từ Điều 26 đến Điều 28): quy định vị trí, biện pháp và trách nhiệm tổ chức, quản lý công tác phòng thủ dân sự.

- Chương VI. Tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng (từ Điều 29 đến Điều 36): quy định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh; ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; tổng động viên, động viên cục bộ; thẩm quyền áp dụng biện pháp thiết quân luật, giới nghiêm và việc bãi bỏ các biện pháp nêu trên; quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.

- Chương VII. Bảo đảm quốc phòng (từ Điều 37 đến Điều 43): quy định các biện pháp chủ yếu bảo đảm cho quốc phòng gồm: nguồn nhân lực, tài chính, tài sản, thông tin liên lạc, thông tin tuyên truyền, y tế, công trình quốc phòng, khu quân sự, giao thông.

- Chương VIII. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức và công dân về quốc phòng (từ Điều 44 đến Điều 49): hệ thống hoá, cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, các luật Tổ chức bộ máy nhà nước, các quy định của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức từ Chính phủ đến các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên về quốc phòng.

- Chương IX. Điều khoản thi hành (Điều 50 và Điều 51): quy định Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2006; giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật
 

Các tin khác