5/28/2012 8:49:00 PM
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
Những trường vật lý xuất hiện trong nước biển khi tầu ngầm hoạt động là những yếu tố có thể làm lộ bí mật tầu ngầm. Hiểu sâu, kỹ và có giải pháp kịp thời chính xác làm giàm các yếu tố vật lý là một trong những vấn đề then chốt của lực lượng tầu ngầm khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
Chương III. Cơ động hành quân của tầu ngầm dưới biển.

3.2 Bí mật cơ động chiến đấu

Bí mật cơ động tác chiến là đặc điểm vô cùng quan trọng trong chiến thuật tầu ngầm, đây là đặc điểm phân biệt các hoạt động tác chiến của tầu ngầm với những hoạt động tác chiến của các lực lượng khác. Các hoạt động bí mật cho phép tầu ngầm trong trạng thái ngầm dưới nước có thể thâm nhập vào những khu vực dưới quyền kiểm soát của đối phương, có thể ẩn nấp trong thời gian dài và bất ngờ tấn công đối phương từ dưới nước. Bí mật cơ động được bảo đảm bằng các giải pháp:  tầu ngầm có thể cơ động ở độ sâu của biển, có thể nằm rất lâu (đối với tầu ngầm nguyên tử) ở dưới nước, không cần nổi lên ngay cả trong độ sâu của kính tiềm vọng; giữ bí mật các biểu hiện có thể làm lộ vị trí tầu ngầm, các dấu hiệu để phát hiện tầu ngầm rất khó nếu so với tầu trên mặt nước, kể cả các tầu được trang bị công nghệ steal; khai thác sử dụng các tính chất thủy văn môi trường của tầu ngầm và sự lựa chọn tốc độ cơ động với tiếng ồn tối thiểu nhất; sử dụng các thiết bị trinh sát, quan sát rất bí mật, trong chế độ thu thụ động để theo dõi, quan sát và bám mục tiêu; sử dụng các trang thiết bị ngụy trang; áp dụng các biện pháp tổ chức và các biện pháp kỹ thuật để che dấu, bảo đảm cho tầu ngầm giữ được bí mật và khôn khéo lẩn tránh bằng những kỹ thuật và quy đạo đặc biệt nhằm tránh cho tầu ngầm không chạm địch hoặc bị phát hiện bới các loại tranh bị, phương tiện chiến tranh của đối phương.

Những dấu hiệu có thể làm lộ bí mật của tầu ngầm bao gồm: các trường vật lý kỹ thuật, có nghĩa là lý tính đặc trưng của tầu ngầm, xuất hiện khi tầu ngâm hoạt động trong môi trường nước biển. Trên thực tế các trường vật lý của tầu ngầm được gọi là vùng không gian bao quanh tầu ngầm, có hình dạng hình cầu hoặc ½ hình cầu, phụ thuộc vào độ nông sâu mà tầu ngầm đang hoạt động, các trường vật lý của tầu ngầm trên nền của tự nhiên có thể dò tìm được bằng các thiết bị đo tương ứng, các thiết bị đo tương ứng này sẽ được tích hợp lại và trở thành công cụ để phát hiện tầu ngầm, công cụ để dẫn đường các loại vũ khí chống tầu và cũng được trang bị trên các bộ phận kích nổ tự động phi tiếp xúc nhằm tiêu diệt tầu ngầm.

Các trường vật lý của tầu ngầm thông thường có: trường âm thanh thứ nhất và trường âm thanh thứ 2 (tiếng vang) vùng từ trường thứ nhất và vùng từ trường thứ hai(phản hồi), trường nhiệt năng tầu ngầm, trương thủy động học, trường lực hấp dẫn, trường phóng xạ và trường quang học.

Ngoài ra, đối với những dấu hiệu làm lộ bí mật của tầu ngầm có thể là, dải bọt nước cuốn theo lằn tầu, sự xao động của nước biển khi chân vịt của tầu ngầm hoạt động và sự chuyển động của thân tầu, khói của động cơ diesel khi tầu ngầm diesel sử dụng động cơ di chuyển dưới mặt nước biển, dấu vết xuất hiện trên mặt biển khi các thùng dầu bị hở hoặc các ống dẫn chất lỏng bị hở, rác rưởi và những chất thải của con người trong sinh hoạt của thủy thủ đoàn, hoặc những dấu hiệu đặc trưng khác, khi tầu ngầm sử dụng vũ khí trang bị trên boong tầu, đặc biệt là tên lửa, đồng thời còn những dấu hiệu khac….

Sủ dụng tất cả những dấu hiệu làm lộ bí mật của tầu ngầm, các lực lượng chống ngầm có thể tiến hành các cuộc tìm kiếm, sử dụng các thiết bị sonar – thủy âm và các thiết bị khác (thiết bị đo cường độ từ trường, các đài radar phát hiện các mục tiêu trên mặt nước, các thiết bị hồng ngoại phát hiện các vệt nước lằn tầu, các thiết bị thu thập và phân tích khí-gas, các thiết bị trinh sát radar và trinh sát sóng radio truyền thông.

Nguồn phát ra trường thủy âm đầu tiên của tầu ngầm (tiếng động tầu ngầm) là tiếng động do chân vịt, tiếng động cơ khí của các bộ phận máy móc, thiết bị, trang thiết bị hoạt động trong tầu, đồng thời là tiếng nước chảy dọc theo thân tầu khi tầu cơ động trong nước biển, đồng thời nguồn thủy âm phát ra từ tầu ngầm cũng có thể là các đài phát siêu âm, hoạt động trong chế độ chủ động (đo khoảng cách đến mục tiêu, sử dụng thông tin liên lạc thủy âm, rà quét thủy lôi, tiếng vọng của âm thanh và các thiết bị đo sử dụng tiếng vọng phản hồi của âm thanh.

Những phản hồi khi đập vào thành tầu ngầm của các sóng thủy âm, phát ra từ các nguồn âm thanh khác nhau (sóng siêu âm từ đài phát sonar, các cơ bão sóng radio thủy âm, âm thanh phản hồi từ các vụ nổ dưới nước…) tạo ra nguồn phát thủy âm thứ hai.

Trường thủy âm là một trong những yếu tố làm mất đi tính chất bí mật của tầu ngâm. Trong đó, tiếng động của chân vịt hoạt động là nguồn âm thanh chủ yếu là mạnh nhật. Âm thanh của chân vịt khi hoạt động ngày một tăng khi tốc độ di chuyển của tầu ngầm tăng lên( vận tốc quay của chân vịt tăng cao). Khi vận tốc quay chân vịt đạt đến giới hạn nào đó, tầu ngầm di chuyển với tốc độ cực đại, từ đó xuất hiện lực hấp dẫn của chân vịt khi quay, tạo ra tiếng ồn rất lớn trong một vùng nước rộng và trên một dải tần số rất rộng. Lực hấp dẫn của chân vịt, đó là hiện tượng trên các cánh quay của chân vịt trong nước biển các lỗ hổng (), các lỗ hổng này làm tăng độ ồn của tầu ngầm. Để giảm thiểu đến mức tối đa tiếng ồn của chân vịt tầu ngầm khi đạt tốc độ vòng quay giới hạn, các nhà thiết kế đã lựa chọn hình dáng chân vịt sao cho tối ưu nhất, tăng số lượng cánh chân vịt, sao cho áp lực nước trên các cánh chân vịt được dàn đều, do đó, lực hấp dẫn chỉ xuất hiện khi tốc độ chân vịt quay là cao nhất. Các chân vịt bị sước xát, bị rạn hoặc móp méo sẽ gây ra tiếng ồn lớn, tạo ra độ rung động khi có dòng nước chảy qua. Để tránh các trường hợp tổn thương của chân vịt, trước khi hành quân cơ động, trong công tác chuẩn bị tầu ngầm, hoặc khi tầu vào cảng trú quân, cần tiến hành kiểm tra xem xét chân vịt, nếu phát hiện hỏng hóc, các cánh chân vịt phải lập tức được thay thế.

Những nguồn tạo trường âm thanh trong tầu ngầm – tầu ngầm nguyên tử là các bộ phận máy móc cơ khí đảm bảo cho hoạt động của tầu ngầm như: trạm nguồn năng lượng hơi nước, đông cơ tuốc bin, các bơm nước tuần hoàn, các máy làm lạnh và các trang thiết bị máy móc cơ khí khác.

Phương pháp làm giảm tiếng ồn được tiến hành theo 3 hướng:

- Làm giảm độ ồn của nguồn phát, có nghĩa là tạo ra những mãy móc trang bị có độ ồn thấp.

- Làm giảm công suất tiếng ồn được phát ra từ nguồn phát bằng phương pháp sử dụng các vật chất và thiết bị rung, cách âm, hấp thụ âm thanh(các loại chất liệu cách âm bao bọc, thiết bị ổn định giảm độ rung, hấp thụ và giảm âm thanh.

- Luôn giữ cho máy móc trang thiết bị, các lớp vỏ bọc loại vật chất giảm độ rung và cách âm luôn trong trạng thái tốt nhất khi sử dụng, đồng thời luôn kiểm soát độ ổn trong tầu ngầm.

Ví dụ: Trên tầu ngầm tên lửa nguyên tử của Hải quân Mỹ trong giai đoạn thử nghiệm đã ghi nhận lại tiếng động và độ rung của hơn 150 trang thiết bị.

Thông thường trước mỗi chuyến hải hành tuần tiễu, các chuyên gia sẽ đo độ ồn của tầu ngầm, nếu độ ồn vượt quá ngưỡng cho phép, chuyến cơ động tuần tiễu sẽ bị đình lại để kiểm tra và khắc phục cho đến khi giảm độ ồn ở mức cho phép.

Tiếng động phát ra khi nước chảy dọc theo thân tầu khi tầu cơ động dưới nước, được đo và xác định khi tầu chạy với tốc độ cao nhất, gần với tốc độ tạo ra lỗ hổng trong nước. Để giảm độ ồn của nước chảy các nhà thiết kế đã chế tạo thân tầu theo nguyên tắc tối ưu thủy động học và động lực học, sử dụng các hệ thổng chuyển động một trục van, tạo cho thân tầu ngầm hình dáng thủy động học có sử chuyển hướng đều đặn từ đường kính thân tầu đến chiều dài thân tầu, làm giảm đi các vết cắt thân tầu trên lớp vỏ, che chắn chúng bằng các tấm lá chắn, giảm số lượng các bộ phận bên ngoài thân tầu, sử dụng các loại vật chất đặc biệt để bọc vỏ tầu.

Để giảm đi cường độ trường âm thanh thứ 2 sử dụng các lớp vỏ bọc chống sonar. Để giảm tiếng động thủy âm của tầu ngầm tránh sự phát hiện của đối phương. Trên tầu ngầm sử dụng hệ thống chế áp thủy âm, nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống là bảo vệ tầu ngầm  tránh khỏi sự phát hiện của các thiết bị trinh sát thủy âm chủ động của đối phương, đồng thời tấn công tiêu diệt đối phương bằng các loại vũ khí trên tầu, có đầu tự dẫn thủy âm, đồng thời có thể gây nhiễu hệ thống trinh sát thủy âm hoặc phá hoại thiết bị trinh sát của đối phương. Các phương pháp được thực hiện nhằm chế áp thủy âm, được tập trung vào việc phá hoại gây nhiễu các hoạt động thông tin liên lạc sử dụng thủy âm, sử dụng các trang thiết bị mô phỏng trôi nổi hoặc tự hành, được phóng ra từ tầu ngầm, các thiết bị mô phỏng này sẽ phát ra các tiếng động tương tự như tầu ngầm bao gồm cả nguồn âm thanh thứ nhất và thứ 2, hoặc các viên đạn mô phỏng, các viên đạn này khi quay trong nước sẽ tạo thành một đám mây bọt khí, phản xạ lại sóng siêu âm của các thiết bị dò tìm thủy siêu âm của tầu ngầm đối phương, đồng thời tạo ra tiếng vang tương tự như tiếng vang của sóng âm khi đập vào thành tầu.

Để giảm khả năng phát hiện tầu ngầm bằng các thiết bị trinh sát thủy siêu âm của đối phương, khi các phương tiện chống ngầm của đối phương rà quét tìm kiếm nguồn bức xạ thủy âm. Sử dụng các trang thiết bị trinh sát siêu âm, thủy âm, các thiết bị thông tin liên lạc thủy âm chỉ trong các trường hợp đặc biệt quan trọng, phụ thuộc hoàn toàn vào các tình huống chiến thuật, khi nếu không sử dụng các thiết bị siêu âm, thủy âm sẽ không thực hiện được nhiệm vụ chiến đấu đặt ra, phải sử dụng trong thời gian rất ngắn và theo mệnh lệnh người chỉ huy.

Khả năng giữ bí mật của tầu ngầm trước các thiết bị trinh sát thủy siêu âm của đối phương phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết, tính toán và lợi dụng các điều kiện thủy âm trong khu vực cơ động.

Điều kiện thủy âm là: xác định tính chất và tốc độ lan truyền của âm thanh trong nước biển, tốc độ lan truyền này bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ theo mùa nước và thời gian trong ngày, đồng thời theo độ mặn nhạt của nước biển. Dấu vết quan trọng nhất để đo được tốc độ âm thanh trong nước biển là hiện tượng khúc xạ của các chùm tia âm thanh, có nghia là sự bẻ cong của các tia sóng âm, sự uốn cong của sóng âm lan truyền trong nước sẽ anh hưởng lên tầm hoạt động của các thiết bị trinh sát thủy siêu âm. Có thể phân biệt những trường hợp lan truyền của sóng âm như sau:

 

1-      Tốc độ của sóng âm giảm khi độ sâu tăng lên, có nghĩa là khúc xạ âm ( giảm) h3.1a.

2-      Tốc độ của sóng âm tăng lên khi độ sâu tăng lên, có nghĩa là khúc xạ dương (tăng) h3.1b

3-      Tốc độ của sóng âm mới đầu tăng lên với độ sâu tăng, sau đó giảm xuống, có nghĩa là lan truyền sóng âm đột ngột giảm xuống khi có sự thay đổi không lớn của độ sâu (lớp độ sâu) h3.1b

4-      Tốc độ của âm thanh mới đầu giảm xuống theo độ sâu, sau đó bắt đầu tăng lên (kênh truyền sóng âm dưới nước). h3.1d

5-      Tốc độ lan truyền của sóng âm hầu như không thay đổi với độ sâu (được gọi là đường đẳng âm)

Kết quả là sự khúc xạ của âm thanh trên các khoảng cách xa khác nhau với nguồn của âm thanh hình thành các khu vực được chiếu sáng ( vang rõ nét) âm thanh và những khu vực bóng tối (vùng câm âm thanh), các khu vực này sẽ làm cho các thiết bị  sóng thủy siêu âm dễ dàng hoặc khó khăn hơn khi phát hiện các vật thể trong môi trường nước. Khu vực được chiếu sáng (vang rõ nét) âm thanh là vùng nước, trong vùng nước này có thể nhận được các tín hiệu của thủy âm, được hình thành và phát đi từ nguồn là các rung động hoặc phản xạ từ vật thể đang bị tìm kiếm và theo dõi. Trong khu vực tối (vùng câm) được hình thành với độ khúc xạ âm (giảm), vật thể tìm kiếm và theo dõi sẽ không thể truy tìm được hoặc rất khó tìm kiếm bằng các phương tiện, trang thiết bị trinh sát thủy âm, do các chùm tia sóng âm sẽ bị khúc xạ xuống phía dưới và giảm đi.

Trong trường hợp các đường đẳng âm, các chùm tia sóng âm trên những khoảng cách không lớn trên bề mặt các lớp nước ở độ sâu nhất định sẽ lan truyền theo đường thẳng, nhưng nếu độ sâu tăng lên sẽ hình thành các vùng tối (vùng câm) gây khó khăn cho các thiết bị tìm kếm bằng siêu thủy âm.

Trong trường hợp khúc xạ dương, sự lan truyền sóng âm sẽ kèm theo nhiều lần phản xạ sóng âm từ bề mặt của biển, các phản xạ này hầu như không làm mất đi năng lượng của sóng ấm. Kết quả là âm thanh lan truyền xa hơn so với những trường hợp kể trên, do đó, điều kiện tìm kiếm bằng các phương tiện thủy âm sẽ thuận tiện hơn rất nhiều lần, do hình thành một kênh âm thanh trên mặt biển, kênh âm thanh trên mặt biển thông thường theo mùa, thường vào nửa năm mùa nước ấm, trục của kênh âm thanh có thể tùy theo vùng nước nằm từ độ sâu 30 đến 200 m.

Kênh truyền âm thanh dưới nước được hình thành từ kết quả ảnh hưởng của khúc xạ dương và khúc xạ âm, sự hoàn toàn phản xạ ở phía trong đường truyền âm, kết quả là ở một độ sâu nhất định, một lớp nước biển sẽ tạo ra điều kiện siêu truyền âm ( lên đến hành nghìn dặm). Khác so với kênh truyền âm trên mặt biển, kênh truyền âm mang tính cố định với độ sâu trục của hành lang truyền âm là 500 m trong khu vực nước lạnh và đến 1500m trong khi vực vùng biển nhiệt đới. Trong trường hợp tìm kiếm vật thể bằng thủy siêu âm, tầm xa nhất hoạt động của các trang thiết bị trinh sát thủy âm được đảm bảo thực hiện khi nguồn phát thủy âm và đầu thu âm thanh nằm gần với đường trục của kênh âm thanh.

Lớp thay đổi tốc độ âm thanh – đây là lớp nước biển mỏng, trong lớp nước này tỷ trọng của nó, phụ thuộc vào nhiệt độ và độ mặn của nước- khác rất nhiều so với với tính chất của các lớp nước nằm phía trên và nằm phía dưới. Âm thanh khi đi qua lớp nước này thay đổi tốc độ truyền âm (khúc xạ dương thay đổi thành khúc xạ âm, xảy ra hiện tượng bẻ gãy sóng âm, cường độ của nó khi đi qua lớp nước này sẽ yếu đi rất nhiều. Lớp thay đổi tốc độ âm thanh có tính chất của một tấm chắn và làm giảm hiệu quả quan sát, theo dõi trinh sát thủy siêu âm của các thiết bị trinh sát thủy âm, đặc biệt khi vật thể quan sát và thiết bị trinh sát nằm hai bên theo mặt phẳng nằm ngang của lớp thay đổi tốc độ ánh sáng, điều thường thấy giữa các tầu ngầm và thiết bị chống ngầm. Khi có sự hiển diện của lớp thay đổi tốc độ âm thanh, tầu ngầm có thể hoạt động ở phía trên lớp nước hay ở phía dưới lớp nước thay đổi tốc độ âm thanh phụ thuộc vào tình huống chiến thuật và nhiệm vụ được giao.

Ví dụ: Khi tầu ngầm tiến hành hoạt động xuyên qua tuyến phòng thủ chống ngầm, thường cơ động dưới lớp nước thay đổi tốc độ truyền âm để đảm bảo bí mật. Đồng thời cũng phải chú ý đến yếu tố làm giảm điều kiện sử dụng các trang thiết bị thủy siêu âm để quan sát trinh sát mục tiêu. Ngược trở lại, khi thực hiện nhiệm vụ chống ngầm, tìm kiếm mục tiêu, thường cơ động trên lớp nước thay đổi tốc độ thủy âm, làm tăng khả năng quan sát, trinh sát theo dõi mục tiêu, nhưng đồng thời cũng làm mất khả năng giữ bí mật của hoạt động tầu ngầm.

Lực lượng chống ngầm (các chiến hạm nổi, máy bay trực thăng chống ngầm) khi có sự hiển diện của lớp nước thay đổi tốc độ âm thanh bắt buộc phải tiến hành tìm kiếm tầu ngầm đối phương dưới lớp nước này bằng các thả các thiết bị trinh sát xuống dưới lớp nước thay đổi tốc độ âm thanh. Các máy bay chống ngâm trong trường hợp này sử dụng các phao radar thủy âm, có các micro thủy âm thả ở độ sâu, sâu hơn độ sâu của lớp nước thay đổi tốc độ thủy âm, các tầu ngầm trong hoạt động chống ngầm lần lượt cơ động theo độ sâu trên hoặc dưới lớp thay đổi tốc độ truyền âm. Độ dày của lớp nước nằm trong khoảng từ vài m đến vài chục m. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, khi xác định độ sau đáy biển, kết quả của ảnh hướng giữa khúc xạ dương và khúc xạ âm, phản xạ từ phía bên trong và phản xạ nhiều lần của sóng âm từ bề mặt và từ đáy biển tạo ra các khu vực âm thanh rõ nét lan truyền xa(vùng sáng âm thanh). Có thể có nhiều vùng truyền âm sáng (rõ nét). Các vùng truyền âm rõ nét thường đan xen với các vùng tối (vùng câm). Phát hiện mục tiêu trong các vùng rõ nét (vùng sáng) âm thanh từ trường hợp các sóng âm thanh bị yếu đi do bị tán xạ và bị hấp thụ rất khó khăn, chỉ có thể khi các vật thể gây tiếng ồn rất lớn, các cụm tầu nổi hoặc các tầu có lượng giãn nước rất lớn.

Để duy trì khả năng giữ bí mật của tầu ngầm trước những thiết bị trinh sát thủy âm, hoặc tiến hành các cuộc tìm kiếm bằng phương tiện trinh sát thủy siêu âm, các tầu ngầm cần chú ý đến các điều kiện lan truyền sóng âm và tầm xa lan truyền sóng âm của chính khu vực biển, âm thanh thông thường xuất phát từ các sinh vật biển (đàn cá, sóng siêu âm của cá heo, ….), đồng thời tiếng ồn của sóng biển, thủy triều, dòng chảy….

Trên tầm xa hoạt động các thiết bị thủy siêu âm của lực lượng chống ngầm thường bị ảnh hưởng bởi tiếng vang, tiếng vang là sóng âm dội lại đài thu thủy siêu âm sau khi sóng âm phát ra từ nguồn âm thanh đã ngừng. Tiếng vang trong sóng biển được hình thành bởi kết quả của sự tán xạ âm thanh, hình thành từ các lớp nước khác nhau của biển. Tiếng vang hạn chế hoạt động thu của các đài thu thủy siêu âm và làm giảm đi khả năng phát hiện các mục tiêu.

Khi thực hiện các tính toán nhằm giữ bí mật cho tầu ngầm tránh khỏi các thiết bị tìm kiếm thủy siêu âm của các lực lượng chống ngầm, cần tính tới, thông thường các bản giới thiệu từ nước ngoài các thiết bị thủy siêu âm thường dành cho điều kiện tối ưu, nước biển không phân lớp, điều kiện khí tượng thủy văn ổn định, đồng thời có tính thêm yếu tố quảng cáo nhằm tăng cường khả năng của thiết bị trên thị trường.

Hiểu biết sâu sắc quy luật lan truyền năng lượng trong môi trường nước biển, trong điều kiện thủy văn cụ thể của khu vực hoạt động của tầu ngầm, có thể lựa chọn được độ sâu cơ động tốt nhất của tầu ngầm, đảm bảo cao nhất khả năng giữ bí mật của tầu ngầm trước những trang thiết bị tìm kiếm trinh sát tầu ngầm, tránh bị phát hiện sớm. Đồng thời, khi các chiến hạm nổi tiến hành trinh sát tìm kiếm tầu ngầm đối phương, có thể lựa chọn được độ sâu, đảm bảo khả năng tìm kiếm xa nhất của tổ hợp các thiết bị tìm kiếm thủy siêu âm (đài sonar …).

Nguồn xuất hiện từ trường của tầu ngầm là các tấm sắt từ hoặc sắt nhiễm từ vỏ tầu, các bộ phận cơ khí, các trang thiết bị, vũ khí trang bị trên boong tầu, hệ thống trạm nguồn và mạng điện một chiều. Để giảm cường độ từ trường như một yếu tố làm mất đi tính bí mật của tầu ngâm, đồng thời giảm khả năng bị tấn công bởi các thủy lôi kích nổ từ trường, trên tầu ngầm lắp đặt các thiết bị đặc biệt khử từ trường thân tầu.

Từ trường có thế có trường thứ nhất, được tạo thành bởi chính bản thân tầu ngầm, và trường thứ hai, được tạo thành bởi sự phản xạ của các sóng từ trường khi bị chiếu xạ từ trường từ các thiết bị trinh sát, các chùm tia từ trường khi đập vào thân tầu và các bộ phận nhô ra trên thân tầu sẽ phản xạ lại và tạo ra trường từ tính thứ hai. Nguồn từ trường thứ nhất được hình thành từ các tranh thiết bị hoạt động và trang thiết bị hoạt động bằng điện và các thiết bị điện tử của tầu ngầm, chủ yếu là các đài radar, sonar hoạt động trong chế độ chủ động, đồng thời là các thiết bị thông tin liên lạc. Bức xạ của các tranh thiết bị đó có thể bị phát hiện, bị phân tích và xác định chủng loại, bị chặn và thu lại đồng thời bị theo dõi bằng các trang thiết bị đài radar và các đài trinh sát điện từ trường của đối phương, các trang thiết bị này được lắp đặt trên tầu chống ngầm và các máy bay chống ngầm (bao gồm cả máy bay trực thăng).

Để giảm thiểu khả năng phát hiện tầu ngầm, các đài radar và sonar hoạt động trong chế độ chủ động được sử dụng rất hạn chế và chỉ trong điều kiện, khi không sử dụng các thiết bị đó tầu ngầm không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao, giới hạn tối thiệu số lượng các đợt truyền tin từ các tầu ngầm, sử dụng các thiết bị truyền thông cực nhanh, tự động mã hóa thông tin và các thiết bị bảo mật khác.

Để tránh khả năng phát hiện tầu ngầm do phản xạ của từ trường cần giới hạn tối thiểu thời gian tầu ngầm có mặt ở trên mặt nước và ở độ sâu tiềm vọng, điều đó đặc biệt với tính chất của tầu ngầm nguyên tử. Các bộ phận nhô ra từ thân tầu ngầm (kính tiềm vọng, ống thông hơi, ăn ten thông tin và ăn ten radar.v.v…được bao bọc bằng các lớp chống phản xạ hiệu dụng radar, sonar. Làm giảm khả năng phát hiện của tầu ngầm. Để thực hiện các hoạt động thông tin liên lạc mà tầu ngầm không cần phải nổi lên trên mặt nước hoặc hoạt động trong độ sâu tiềm vọng, trên tầu lắp đặt các ăn ten nhiều cần hoặc các loại ăn ten đặc biệt khác, sử dụng các thiết bị thu âm bước sóng dài và dải tần rộng, cho phép tầu ngầm có thể thu tín hiệu ở độ sâu đến 25m hoặc hơn nữa. Để kết nối liên lạc chiến đấu giữa tầu ngầm và máy bay hoặc tầu nổi sử dụng các an ten phao, sử dụng khi tầu đang ở trạng thái lặn ngầm khi đang cơ động hoặc đậu tại chỗ. Để liên lạc với máy bay, ngoài các an ten phao, còn sử dụng các thiết bị phao thu phát sóng thủy siêu âm. Phao thu phát nhận các thông tin radio từ máy bay và truyền tải chúng cho tầu ngầm theo kênh chuyền sóng thủy âm liên lạc, và ngược lại, nhận các thông tin thủy âm từ tầu ngầm chuyển tải sang sóng radio và chuyển đến máy bay. Để truyền thông tin cho tầu ngầm, đang ở trong trạng thái lặn ngầm dưới độ sâu 30m, thường sử dụng các đài thu phát có bước sóng siêu dài với công suất rất lớn.

Trường nhiệt của tầu ngầm, đó là trường điện từ của tầu ngầm, được phát xạ dưới dạng bức xạ hồng ngoại. Nguồn trường nhiệt năng là thân tầu ngầm khi tầu nổi trên mặt nước, các bộ phận và thiết bị nhô ra từ thân tầu, đặc biệt là ống thông khí, khi tầu hoạt động trong độ sâu tiềm vọng và vệt nước lằn tầu. Nhiệt năng tỏa ra từ tầu ngầm tạo ra một sự tương phản trên phông nền của biển, và được sử dụng để tìm kiếm tầu ngầm. Tầm hoạt động các các hệ thống tìm kiếm sẽ giảm đi khi có mưa gió, sương mù, biển động và độ sâu hoạt động của tầu ngầm.

Trường điện từ của tầu ngầm: là các hiệu điện thế khác nhau xuất hiện giữa vỏ tầu ngầm (và các kim loại khác, được dùng để chế tạo các bộ phận thân tầu và các trang thiết bị, hệ thống) và nước biển khi tác động qua lại với nhau. Trường điện từ xuất hiện rất yếu và thông thường không được sử dụng để tìm kiếm và cũng không sử dụng trong các thiết bị kích nổ của các đầu đạn tấn công.

Trường thủy động học của tầu ngầm – đây là vùng nước ngầm, trong đó tốc độ các phần tử nước thay đổi, xuất hiện cùng với sự chuyển động của tầu ngầm, đống thời là sự thay đổi của áp lực nước trong vùng nước bao quanh tầu ngầm. Những cảm biến cực nhạy của các đầu nổ phi tiếp xúc của các thủy lôi phá đáy tầu có thể cảm nhận những thay đổi của trường thủy động học và kích nổ thủy lôi.

Trường bức xạ các tia phóng xạ thông thường được hình thành trong quá trình hoạt động của các lò phản ứng hạt nhân nguyên tử trong tầu ngầm. Theo quy chuẩn khi các hệ thống bảo vệ sinh học hoạt động ổn định, tin cậy thì trường bức xạ tia phóng xạ rất yếu, hầu như không ảnh hưởng đến môi trường và không làm lộ bí mật tầu ngầm.

Trường nhìn (quang học) quan sát được hiện tượng tầu ngầm khi tầu ở trạng thái nổi trên mặt nước, ở độ sâu kính tiềm vọng và dưới độ sâu hơn kính tiềm vọng. Khả năng quan sát được phụ thuộc vào độ chiếu sáng, bọt nước, trạng thái khí quyển, cấp độ của sóng biển và độ trong của nước biển. Đối với các tầu ngầm diesel, và các tầu ngầm đa nhiệm, để ngụy trang, thân tầu ngầm cần được sơn mầu trùng với mầu của nước biển, các phương tiện, trang bị được đưa lên khỏi mặt nước với độ cao thấp nhất cho phép, khi tầu ngầm bơi ở chế độ kính tiềm vọng để tránh hình thành đường vệt nước chạy trên mặt nước biển cần cơ động với tốc độ thấp nhất. Khi bơi dưới nước độ sâu của tầu phải lớn hơn độ sâu vùng nước trong một vài mét để tránh không bị phát hiện từ trên không (bóng đen sẫm của tầu ngầm trong vùng nước trong).

Trường hấp dẫn của tầu ngầm, được hiểu là các lực hấp dẫn, xuất hiện khi tầu ngầm có mặt tại một vị trí nhất định như một vật chất cụ thể. Nó rất yếu và không ảnh hưởng đến khả năng giữ bí mật của tầu.

Như vậy, hiểu biết các trường năng lượng của tầu ngầm và những khả năng làm lộ bí mật của tầu ngầm, những giới hạn cho phép, những giải pháp và phương án làm giảm khả năng phát hiện, có khả năng tính toán và sử dụng các điều kiện thủy văn và môi trường nước, cũng như các điều kiện khí tượng. Để lựa chọn độ sâu chính xác và tốc độ hài trình, đảm bảo giữ bí mật cao nhất của tầu ngầm.
 
   0   Tổng số:
  Gửi ý kiến phản hồi
ONCIE

Các tin khác