Tháng 6 năm 2013 tổng thống Mỹ Barack Obama đã ký “Chỉ lệnh về chính sách” số 24 dưới tiêu đề “Chiến lược sử dụng vũ khí hạt nhân của Mỹ”. Trong văn kiện này sự quan tâm đặc biệt được dành cho việc nghiên cứu vai trò, vị trí và ý nghĩa của vũ khí hạt nhân trong nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia của nước Mỹ và các đồng minh.

Các luận điểm chủ yếu của chiến lược hạt nhân hiện hành - đệ trình từ năm 2010 đã được tiến hành phân tích trong bản “Đánh giá toàn diện thực trạng và tiền đồ phát triển các lực lượng hạt nhân Mỹ”.

Theo quan điểm của các chuyên gia phân tích nước ngoài, bản Chỉ lệnh của tổng thống Hoa Kỳ bao hàm một loạt nguyên tắc được điều chỉnh, liên quan tới vũ khí hạt nhân và vai trò của loại vũ khí này trong việc giải quyết các nhiệm vụ kiềm chế hạt nhân đối với những đối tượng tác chiến tiềm tàng. Vũ khí hạt nhân được coi là hợp phần chủ yếu của các lực lượng và phương tiện kiềm chế hạt nhân. Đồng thời văn kiện cũng nói tới vấn đề bảo đảm sự ổn định chiến lược trong điều kiện các vũ khí tiến công chiến lược bị cắt giảm do phải thực thi “Hiệp ước giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ về những biện pháp nhằm tiếp tục cắt giảm và hạn chế vũ khí tiến công chiến lược”.

Văn kiện lưu ý về sự gia tăng vai trò kiềm chế hạt nhân khu vực của các đối tượng tác chiến dự kiến và khẳng định sự cam kết của ban lãnh đạo Mỹ trước các đồng minh về việc bảo vệ họ bằng “chiếc ô hạt nhân”. Cùng với đó tập trung quan tâm bằng mọi giá đạt được những mục tiêu của chính sách hạt nhân Mỹ trong trường hợp việc giải quyết các nhiệm vụ kiềm chế hạt nhân bị “thất bại”; hoàn thiện những hình thức và phương pháp sử dụng, hiện đại hóa và phát triển các lực lượng tiến công chiến lược; ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân trên thế giới; bảo đảm những lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ khi thực hiện các điều khoản của Hiệp ước về vũ khí tiến công chiến lược; bảo đảm an toàn, bảo mật và giữ vững độ tin cậy của đạn dược hạt nhân trong điều kiện quy định cấm các vụ thử nghiệm hạt nhân còn hiệu lực.

Văn kiện nhận định rằng, khả năng phát động chiến tranh quy mô lớn có sử dụng vũ khí hạt nhân và sự tham gia của nước Mỹ trong giai đoạn hiện nay là rất thấp. Nhưng có thể xảy ra việc phổ biến vũ khí hạt nhân, các công nghệ tên lửa – hạt nhân không kiểm soát được tại nhiều quốc gia, điều này liên quan tới vi phạm Hiệp ước vô thời hạn về việc không phổ biến vũ khí hạt nhân. Khả năng một số quốc gia thực hiện những đòn tiến công bằng tên lửa – hạt nhân riêng rẽ vào lãnh thổ Hoa Kỳ và các đồng minh của nước này là một mối đe dọa  tiềm tàng nghiêm trọng.

Xuất phát từ điều này Mỹ cần phải duy trì các lực lượng tiến công chiến lược ở trạng thái có thể bảo đảm kiềm chế chiến lược vô điều kiện. Đồng thời các đối tượng tác chiến tiềm tàng phải nhận thức được rằng, những hậu quả của việc tiến công vào nước Mỹ và các đồng minh của Mỹ sẽ vô cùng nặng nề. Dường như việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa toàn cầu và các hạng mục của nó nhằm mục đích này.

Về mối quan hệ với Nga, văn kiện tuyên bố rằng, Liên bang Nga và Hoa Kỳ sẽ không còn “là các đối tượng tác chiến của nhau, mức độ đối đầu về quân sự giữa hai quốc gia đã giảm xuống, mối đe dọa của một cuộc chiến tranh hạt nhân đã được đẩy xa hơn, hai nước đang thực hiện những biện pháp duy trì sự ổn định chiến lược”. Đồng thời văn kiện thể hiện sự quan ngại sâu sắc về việc hiện đại hóa những vũ khí tiến công chiến lược hiện có và nghiên cứu chế tạo các vũ khí tiến công chiến lược trong tương lai tại nước Nga. Nói về Trung Quốc, văn kiện nhận định rằng, nước này không có sự minh bạch về những kế hoạch xây dựng và phát triển các lực lượng chiến lược, đang được tiến hành “với quy mô lớn và tốc độ nhanh chóng”. Vì lẽ đó Chỉ lệnh của tổng thống giao trách nhiệm cho bộ quốc phòng Hoa Kỳ nghiên cứu những biện pháp bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả của nhiệm vụ kiềm chế hạt nhân khu vực và toàn cầu đối với các đối tượng tác chiến dự kiến. Bản danh sách liệt kê những nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo vệ các quốc gia mà Hoa Kỳ đã thiết lập sự hợp tác và nằm “dưới chiếc ô hạt nhân của Mỹ” được dự kiến sẽ mở rộng. Trong số đó có các nước thành viên NATO, Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và một loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, mà trước hết là Israel.

Trong Chỉ lệnh nhấn mạnh rằng, chỉ có tổng thống Mỹ với cương vị tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang mới có quyền ra lệnh sử dụng vũ khí hạt nhân để loại trừ các mối đe dọa đối với những lợi ích có tầm quan trọng sống còn của nước Mỹ và các đồng minh của Mỹ khi xuất hiện những tình huống đặc biệt, còn trong thời chiến – để tiêu diệt các mục tiêu chiến lược và cực kỳ quan trọng của đối phương. Lầu năm góc được giao nhiệm vụ duy trì khả năng của các lực lượng tiến công chiến lược sẵn sàng thực hiện chiến lược tiến công hạt nhân và sử dụng vũ khí hạt nhân tiến công phủ đầu. Phải chủ động nghiên cứu vấn đề xây dựng “sức mạnh giáng trả tên lửa – hạt nhân” cần thiết cho việc thực hiện các đòn tiến công bằng tên lửa – hạt nhân vào những mục tiêu của lực lượng hạt nhân đối phương “nhằm làm giảm thiểu khả năng thực hiện đòn trả đũa” của địch. Đồng thời tuyên bố rằng, cần phải bảo đảm sự kiềm chế chắc chắn bằng số lượng vũ khí vũ khí hạt nhân tối thiểu.

Để bảo đảm tiến hành các chiến dịch hạt nhân dự kiến trong tương lai, các lực lượng tiến công chiến lược sẽ duy trì tiềm lực của “những lượng nổ hạt nhân chưa triển khai hoạt động”, chúng cần được phân bổ lại giữa các phương tiện mang nhằm “đối phó với những thay đổi của tình hình chính trị – quân sự và chiến lược – quân sự trên thế giới hoặc trong khu vực”. Đồng thời việc thay thế đạn dược hạt nhân khi cần thiết sẽ được tiến hành trong nội bộ từng hợp phần của bộ ba hạt nhân cũng như giữa các hợp phần với nhau. Văn kiện khẳng định, phương pháp luân chuyển đạn dược hạt nhân như vậy sẽ cho phép nâng cao khả năng chiến đấu của hợp phần này hay hợp phần khác trong bộ ba hạt nhân tùy thuộc vào tình hình.

Như đã nêu, Washington giành cho mình quyền sử dụng vũ khí hạt nhân chỉ trong những tình huống dặc biệt. Theo nhận định của các chuyên gia nước ngoài, quyền như vậy sẽ được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào để bảo vệ những lợi ích có tầm quan trọng sống còn của nước Mỹ, các đồng minh và đối tác của nước này trong đòn tiến công tên lửa – hạt nhân ngăn chặn cũng như đòn giáng trả đồng thời. Trong văn kiện nhấn mạnh rằng, phía Mỹ sẽ duy trì quan điểm này trong suốt thế kỷ XXI. Những luận điểm của Chỉ lệnh mà tổng thống Mỹ ban bố xác nhận định hướng của chiến lược hạt nhân hiện hành: “Mối đe dọa phát động chiến tranh hạt nhân đã lùi xa, nhưng nguy cơ tiến công hạt nhân gia tăng. Điều này đòi hỏi phải duy trì một lượng vũ khí hạt nhân chiến thuật và chiến lược cần thiết ở tình trạng sẵn sàng thực hiện đòn tiến công tên lửa – hạt nhân phủ đầu theo quyết định của tổng thống Hoa Kỳ”.

Theo đánh giá của các chuyên gia phân tích Mỹ, hiện tại mối đe dọa thực hiện đòn tiến công hạt nhân bất ngờ vào nước Mỹ từ phía các đối tượng tác chiến tiềm tàng là rất thấp. Do đó ban lãnh đạo Mỹ cho rằng, điều chỉnh phần quy định các hình thức và phương pháp thực hiện đòn giáng trả đồng thời bằng tên lửa – hạt nhân trong kế hoạch tác chiến là hợp lý. Trong văn kiện lần này nhận định rằng, Nhà Trắng không chủ trương sử dụng vũ khí hạt nhân chống các quốc gia phi hạt nhân, là thành viên Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân và nghiêm chỉnh thực hiện những cam kết của mình.

Trong Chỉ lệnh đặc biệt chú ý tới sự cần thiết phải tuân thủ Hiệp ước về vũ khí tiến công chiến lược, điều này cho phép thực thi kiềm chế hạt nhân các đối tượng tác chiến dự kiến một cách có hiệu quả với lượng phương tiện mang và đạn dược hạt nhân đã cắt giảm 1/3. Đồng thời nước Mỹ cần phải sẵn sàng cắt giảm các vũ khí tiến công chiến lược sâu hơn nữa kết hợp với cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến thuật, nhưng chỉ sau khi ký kết với Nga một hiệp định phù hợp. Bên cạnh đó phía Mỹ dự kiến giữ lại lượng vũ khí hạt nhân chiến thuật của mình ở châu Âu (bom kiểu B – 61 dùng cho máy bay) như là lý do của việc “mở rộng kiềm chế hạt nhân khu vực”, tới chừng nào “NATO còn chưa xác định được các điều kiện cho việc thay đổi” chính sách hạt nhân của liên minh này. Tuy nhiên theo nhận định của các chuyên gia nghiên cứu nước ngoài, Liên minh Bắc Đại Tây Dương hiện nay chưa xem xét vấn đề về sự cần thiết và hợp lý của việc thay đổi chính sách nói trên.

Chỉ lệnh giao trách nhiệm cho bộ trưởng quốc phòng điều chỉnh nội dung các kế hoạch tác chiến sử dụng lực lượng trong chiến đấu, các chương trình hiện đại hóa và phát triển lực lượng tiến công chiến lược có tính đến khả năng của các đồng minh của Mỹ sở hữu vũ khí hạt nhân trong NATO. Văn kiện nhấn mạnh sự cấp thiết của việc chuyển sang các hình thức và phương pháp sử dụng lực lượng tiến công trong chiến đấu có hiệu quả hơn trong bất kỳ điều kiện tình hình nào và khi xuất hiện những tình huống bất khả kháng, làm tổn hại các lợi ích an ninh quốc gia của Hoa Kỳ và các đồng minh của nước này.

Chương trình xây dựng bộ ba hạt nhân mới, là quá trình liên kết về mặt tác chiến và tổ chức – kỹ thuật của các lực lượng tiến công chiến lược và phòng thủ chiến lược với hạ tầng của tổ hợp công nghiệp – quân sự Hoa Kỳ trên phạm vi toàn cầu. Nền tảng của sự liên kết như vậy là hệ thống trinh sát, xây dựng kế hoạch tác chiến, chỉ huy chiến đấu và thông tin liên lạc thống nhất trong khuôn khổ bộ chỉ huy chiến lược liên quân các lực lượng vũ trang Mỹ. Biên chế hợp phần tiến công của bộ ba sẽ bao gồm các vũ khí tiến công chiến lược, vũ khí hạt nhân chiến thuật và vũ khí chiến lược phi hạt nhân, mà cụ thể là vũ khí chính xác cao tầm xa, các phương tiện sát thương siêu thanh và vũ khí dựa trên các nguyên tắc lý học mới.

Nhiệm vụ tiêu diệt một phần các mục tiêu chiến lược và có tầm quan trọng đặc biệt của đối tượng tác chiến dự kiến sẽ được giao cho vũ khí chiến lược phi hạt nhân. Vì lẽ đó, dự báo có khả năng vai trò của vũ khí tiến công chiến lược trong việc bảo đảm những lợi ích quốc gia của Mỹ và các đồng minh sẽ giảm bớt. Xuất phát từ điều này, bộ trưởng quốc phòng được ủy quyền chuẩn bị các ý kiến đề xuất về việc “sớm xây dựng các phương án tiến công phi hạt nhân khác nhau” kèm theo đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng chiến đấu các lực lượng hạt nhân và phi hạt nhân trong trường hợp sử dụng lần lượt và đồng thời những lực lượng này.

Trong khi đó văn kiện nhận định rằng, các phương tiện sát thương chiến lược phi hạt nhân “không phải là sự thay thế cho vũ khí hạt nhân”. Nhằm giải tỏa những lo ngại của các đồng minh và đối tác về độ tin cậy “của chiếc ô hạt nhân Mỹ”, dự kiến sẽ tăng cường vai trò kiềm chế khu vực đối với các đối tượng tác chiến tiềm tàng nhờ sử dụng các vũ khí hạt nhân chiến thuật trên chiến trường và tại những khu vực xa xôi về địa lý.

Cùng với đó, khi tình hình chính trị – quân sự và chiến lược – quân sự trở nên căng thẳng, đe dọa những lợi ích an ninh quốc gia của nước Mỹ và các đồng minh Mỹ, việc tăng cường khả năng chiến đấu của các lực lượng tiến công chiến lược một cách linh hoạt sẽ được bảo đảm nhờ sử dụng “một số lượng đáng kể đạn dược hạt nhân chưa triển khai”.

Văn kiện đặc biệt tập trung quan tâm tới việc thực hiện những chương trình hiện đại hóa và phát triển các lực lượng tiến công chiến lược của Mỹ trong điều kiện Hiệp ước về vũ khí tiến công chiến lược còn hiệu lực. Trong thời điểm hiện tại, các lực lượng tiến công chiến lược bao gồm lực lượng tên lửa chiến lược bố trí trên bộ (lực lượng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa), máy bay ném bom chiến lược và những lực lượng chiến lược bố trí trên biển (tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo).

Ban lãnh đạo quân sự Mỹ ghi nhận trình độ sẵn sàng chiến đấu cao của các lực lượng tiến công chiến lược, chứng minh các kết luận của mình bằng kết quả phóng đạn huấn luyện – chiến đấu của tên lửa đạn đạo xuyên lục địa và tên lửa đạn đạo từ tàu ngầm. Chẳng hạn, vào năm 2013 đã thực hiện thành công 9 lần phóng tên lửa chiến lược: 4 tên lửa “Minuteman – 3” và 5 tên lửa đạn đạo “Trident – 2” từ tàu ngầm, được trang bị đầu đạn thử nghiệm đồng bộ. Những kết quả này đã khẳng định độ tin cậy của các tên lửa và bộ máy chỉ huy chiến đấu của các lực lượng tên lửa đạn đạo, cũng như đáp ứng được trình độ nghiệp vụ cần có của các kíp trắc thủ tại các sở chỉ huy phóng đạn.

Về mặt tổ chức, tên lửa đạn đạo xuyên lục địa và máy bay ném bom chiến lược thuộc thành phần biên chế của các lực lượng không quân, còn tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo trực thuộc hải quân Mỹ. Trong biên chế chiến đấu của không quân có các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa “Minuteman – 3” với đầu đạn hạt nhân chia tách được, tự dẫn, các máy bay ném bom hạng nặng B – 52H và B – 2A được trang bị các tên lửa hành trình hạt nhân tầm xa phóng từ trên không và bom hạt nhân rơi tự do. Các máy bay ném bom chiến lược B - 1B đã được hoán cải để giải quyết những nhiệm vụ phi hạt nhân.

Trong trang bị của hải quân có các tên lửa đạn đạo “Trident – 2” với đầu đạn hạt nhân phân chia được, tự dẫn bố trí trên tàu ngầm, thường được trang bị cho tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo kiểu “Ohio”. Các tên lửa hành trình “Tomahawk” được trang bị đầu đạn hạt nhân bố trí trên hạm đã được đưa ra khỏi trang bị vào năm 2012.

Theo những thông tin được trao đổi lẫn nhau giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ, tại thời điểm ngày 1 tháng 9 năm 2014, trong các lực lượng tiến công chiến lược của Mỹ đã triển khai 794 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, tên lửa đạn đạo trên tàu ngầm và máy bay ném bom hạng nặng, ước tính theo chúng có 1.642 đầu đạn hạt nhân, lượng bệ phóng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa và tên lửa đạn đạo trên tàu ngầm đã triển khai và chưa triển khai, cũng như của máy bay ném bom hạng nặng đã và chưa triển khai gồm 912 đơn vị. Theo Hiệp ước về vũ khí tiến công chiến lược, mức độ cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược của Liên bang Nga và Hoa Kỳ sau 7 năm kể từ thời điểm Hiệp định có hiệu lực phải đạt được là: 1.550 đầu đạn hạt nhân đã triển khai; 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, tên lửa đạn đạo đã triển khai trên tàu ngầm và máy bay ném bom hạng nặng; 800 bệ phóng tên lửa đạn đạo, tên lửa đạn đạo trên tàu ngầm và cả trên máy bay ném bom hạng nặng đã và chưa triển khai.

Biên chế chiến đấu tương lai của các lực lượng tiến công chiến lược Mỹ (dự tính tới thời điểm ngày 5 tháng 2 năm 2018) được công bố ngay từ năm 2010, đăng tải trên một chuyên san thường kỳ, mà các tác giả của nó là những chuyên gia nghiên cứu Mỹ.

Trong phần liên quan tới cơ cấu tổ chức của các lực lượng tiến công chiến lược Mỹ, dự kiến giữ lại trong trang bị tất cả các hợp phần của bộ ba hạt nhân hiện nay: tên lửa đạn đạo xuyên lục địa “Minuteman – 3”, tàu ngầm nguyên tử kiểu “Ohio” mang tên lửa đạn đạo “Trident – 2” và máy bay ném bom hạng nặng B – 52H và B – 2A. Như đã nêu, trong quá trình chuyển đổi bộ ba hạt nhân truyền thống thành bộ ba mới, nhiều chương trình hiện đại hóa và phát triển tất cả các hợp phần của lực lượng tiến công chiến lược đang được tiến hành.

Chẳng hạn, trong lực lượng tên lửa chiến lược bố trí trên bộ, trong khuôn khổ của Hiệp ước về vũ khí tiến công chiến lược dự định cắt giảm thành phần chiến đấu tới 420 tên lửa, đồng thời trang bị cho chúng đầu đạn đơn khối. Điều kiện nêu trên dự kiến được thực hiện bằng cách đưa ra khỏi biên chế chiến đấu các lực lượng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa của một trong những phi đội, đồng thời giữ lại những chuyên gia có trình độ nghiệp vụ cao. Theo kế hoạch, năm 2015 sẽ hoàn tất quá trình nâng cấp các hệ thống chủ yếu của tổ hợp tên lửa “Minuteman – 3”, đồng thời gia hạn sử dụng nó tới năm 2030. Chẳng hạn, đã kết thúc hoạt động tái trang bị động cơ các tầng hành trình của tên lửa, hiện đại hóa hệ thống điều khiển, cũng như thay thế các động cơ nhiên liệu lỏng của boong chia tách đầu đạn tên lửa.

Các chuyên gia Mỹ cho rằng, tổ hợp tên lửa nói trên sau khi được nâng cấp sẽ đủ khả năng sử dụng tới thời điểm nói trên. Đồng thời các công trình nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp kéo dài thời hạn sử dụng tổ hợp tên lửa “Minuteman – 3” tới giai đoạn sau năm 2030 hay chế tạo những tổ hợp tên lửa mới bố trí theo phương pháp cố định hoặc di động cũng đang được thực hiện.

Như vậy, theo tiêu chí “giá trị” thì việc nâng cấp và gia hạn sử dụng tổ hợp tên lửa “Minuteman – 3” hiện có được thừa nhận là hướng phát triển lực lượng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa có hiệu quả hơn.

Các công trình nghiên cứu cho thấy, theo tiêu chí “khả năng sống sót”, các tổ hợp tên lửa cố định được bố trí trong các công trình kiểu lò giếng chắc chắn hơn, bởi vì chỉ có các lực lượng hạt nhân chiến lược Nga đủ khả năng tiêu diệt chúng. Trong bản báo cáo của hãng phân tích thông tin “RAND” nhận định rằng, lựa chọn có lợi cho các tổ hợp tên lửa di động sẽ chỉ hợp lý khi các lực lượng hạt nhân chiến lược Nga đổi mới trên quy mô lớn, làm thay đổi sự cân bằng chiến lược do việc Liên bang Nga rút khỏi Hiệp ước về vũ khí tiến công chiến lược hoặc việc bắt buộc phải đơn phương cắt giảm các vũ khí tiến công chiến lược của Mỹ.

Theo tiêu chí “hiệu quả sử dụng” các chuyên gia của hãng này đề xuất thực hiện việc tái cơ cấu một phần lực lượng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa đồng thời triển khai lực lượng này tại căn cứ không quân Vandenberg (bang California) và mũi Canaveral (Florida). Việc này có khả năng cho phép giải quyết từng phần vấn đề tên lửa đạn đạo bay qua không phận Liên bang Nga và CHND Trung Hoa nhằm tiêu diệt những mục tiêu của các đối tượng tác chiến dự kiến trong điều kiện thiếu cơ sở luật pháp quốc tế. Kết luận phi tiêu chuẩn về khả năng điều khiển quỹ đạo bay của tên lửa đạn đạo xuyên lục địa kiểu “Minuteman – 3” được phóng đi từ 3 căn cứ tên lửa trên lãnh thổ Mỹ về mặt nguyên tắc cũng đã được đưa ra. Việc này đòi hỏi phải tiếp tục tu chỉnh kết cấu, hệ thống điều khiển tên lửa và trang thiết bị kiểm tra – phóng đạn trên bộ của các sở chỉ huy về mặt nguyên tắc.

Trong các số liệu của bản báo cáo do hãng này xây dựng cũng đưa ra những kết quả của nhiều hoạt động nghiên cứu tên lửa đạn đạo xuyên lục địa và tên lửa đạn đạo trang bị đầu đạn thông thường bố trí trên tàu ngầm nguyên tử. Tài liệu khuyến cáo rằng, việc đưa vào trang bị các tên lửa đạn đạo cũng như tên lửa đạn đạo bố trí trên tàu ngầm trang bị đầu đạn thông thường không thể là hướng ưu tiên, bởi vì chúng chỉ có khả năng tiêu diệt một cách có hiệu quả những mục tiêu cố định và không được bố trí sâu trong lòng đất. Ngoài ra còn có kết luận về khả năng phát sinh những sự cố hạt nhân với Nga và Trung Quốc, bởi vì không có những phương pháp nhận biết các vụ phóng tên lửa đạn đạo và tên lửa đạn đạo bố trí trên tàu ngầm mang đầu đạn thông thường và chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học theo hướng này được các nước tiến hành.

Như vậy, các chuyên gia của hãng “RAND” đã đề xuất định hướng vào phương án hiện đại hóa tổ hợp tên lửa “Minuteman – 3” đồng thời gia hạn sử dụng nó tới giai đoạn 2030 – 2035. Trong trường hợp tình hình chính trị - quân sự và chiến lược – quân sự thay đổi một cách căn bản và xuất hiện các mối đe dọa mới đối với an ninh quốc gia của Mỹ và đồng minh của nước này, ban lãnh đạo quân sự Mỹ và tổ hợp công nghiệp quân sự phải bảo đảm sẵn sàng chế tạo và đưa vào trang bị các tổ hợp tên lửa tương lai, trong đó có cả những tổ hợp di động đồng thời sử dụng sản phẩm khoa học – kỹ thuật dự trữ, được chế tạo trong quá trình nghiên cứu các tổ hợp tên lửa di động "Midzhitmen” trên bộ.

Trong các lực lượng tên lửa chiến lược bố trí trên hạm, để thực thi Hiệp định về vũ khí tiến công chiến lược dự kiến bắt đầu cắt giảm số lượng bệ phóng từ 24 xuống 20 trên toàn bộ 14 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo kiểu “Ohio”. Đồng thời tới năm 2018 số lượng tên lửa đạn đạo “Trident – 2” bố trí trên tàu ngầm không được phép vượt quá 240 đơn vị. Nhưng tổng lượng đầu đạn lắp đặt cho tên lửa đạn đạo “Trident – 2” bố trí trên tàu ngầm sẽ được duy trì ở mức độ cần thiết.

Do việc gia hạn phục vụ của các tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa đạn đạo kiểu “Ohio” (từ 40 lên 44 năm), chương trình nâng cấp tên lửa đạn đạo “Trident – 2” bố trí trên tàu ngầm (Life Extension Program – LEP) nhằm kéo dài thời hạn sử dụng những tên lửa như vậy tới năm 2042 đang được tiến hành. Mỗi năm có gần 1,5 tỷ USD được chi cho việc tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, thiết kế, thử nghiệm và mua sắm tên lửa mới. Điều này cho phép kết thúc việc nghiên cứu, chế tạo hệ thống điều khiển tên lửa đạn đạo mới trên boong và dự kiến bắt đầu từ năm 2017 sẽ chuyển giao cho hải quân Mỹ loạt tên lửa đầu tiên như thế.

Việc thay thế các hệ thống điều khiển trên toàn bộ số tên lửa đạn đạo “Trident – 2” có trong trang bị của lực lượng hạt nhân chiến lược trực thuộc hải quân dự kiến được thực hiện trong vòng 10 năm. Từ năm 2015 dự kiến tiến hành thay thế theo kế hoạch các động cơ hành trình của tên lửa và máy sinh khí của các boong chia tách đầu đạn. Đồng thời tiến hành các hoạt động nhằm hoàn thiện việc trang bị chiến đấu bằng phương pháp lắp đặt lên tên lửa các đầu đạn kiểu Mk4 đã cải tiến với dự trữ thời gian sử dụng được gia hạn thêm 20 – 30 năm.

Cần phải nhận thấy, hải quân Mỹ hiện nay cũng đang tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, thiết kế, thử nghiệm nhằm tạo ra sản phẩm nghiên cứu khoa học mới để đưa ra quyết định tiếp tục nâng cấp tên lửa đạn đạo “Trident – 2” bố trí trên tàu ngầm hay nghiên cứu, chế tạo các tên lửa thế hệ mới.

Theo báo cáo của Vụ nghiên cứu quốc hội Mỹ, trong các kế hoạch phát triển lực lượng hải quân có việc thay thế (từ năm 2030) 14 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo kiểu “Ohio” bằng các tàu chiến lược lớp mới SSBN (X), được trang bị 16 bệ phóng. Vào tháng 1 năm 2013 công ty “Genenal dynamic” đã ký kết với không quân Mỹ bản hợp đồng thời hạn 5 năm với tổng giá trị 1,85 tỷ USD nhằm tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, thiết kế, thử nghiệm phục vụ việc chế tạo tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo thế hệ mới trong khuôn khổ chương trình NORBMS (Navy Ohio Replacement Ballistic Missile Submarine Program). Dự kiến việc đóng chiếc tàu đầu tiên sẽ được khởi công vào năm 2021, và theo kế hoạch nó sẽ được đưa vào biên chế của hải quân năm 2031. Theo dự tính, giá thành của một con tàu vào khoảng 5,36 tỷ USD. Đồng thời dự kiến trong vũ khí trang bị sẽ có các tên lửa đạn đạo “Trident – 2” (D – LE) đã được nâng cấp.

Trong lực lượng máy bay ném bom chiến lược của Mỹ đang dự kiến cắt giảm số máy bay ném bom hạng nặng xuống 60 đơn vị. Các máy bay B – 52H và B – 2A sẽ được giữ lại để tiến hành những hoạt động trong phương án hạt nhân. Các máy bay ném bom B – 1B đã được tái định hướng để giải quyết những nhiệm vụ phi hạt nhân. Việc này cũng dự kiến sẽ được tiến hành với một phần số máy bay ném bom B – 52H đang có trong trang bị. Sẽ tiến hành song song các hoạt động nâng cấp số máy bay ném bom chiến lược nhằm bảo đảm sự hiện diện của chúng trong biên chế chiến đấu của lực lượng không quân tới năm 2040. Ngoài ra, còn tiến hành những công trình nghiên cứu tổng quan về hình dáng của máy bay ném bom chiến lược thế hệ mới.

Máy bay ném bom chiến lược tương lai dự kiến được chế tạo trên nền tảng công nghệ tàng hình với khả năng thực hiện các cuộc không kích từ những căn cứ không quân tiền tiêu vào nhiều mục tiêu của đối phương trên các chiến trường xa. Các chỉ số khối lượng, kích thước của nó dự kiến sẽ nhỏ hơn 2 – 3 lần so với máy bay ném bom B – 2A. Khả năng trang bị cho máy bay vũ khí hạt nhân, các phương tiện chính xác cao hiện đại lớp “không đối đất” phi hạt nhân, tên lửa hành trình “không đối không” có tầm bắn được nâng cao và đạn dược kích cỡ nhỏ đang được nghiên cứu. Giá thành khái toán của một máy bay ném bom như thế không tới 500 triệu USD.

Vào tháng 12 năm 2012 lực lượng không quân Mỹ đã công bố mở cuộc thi chế tạo tên lửa hành trình tầm xa phóng từ máy bay LRSO (Long Range Standoff), mà khi kết thúc sẽ xác định được nhà phát minh và nhà cung cấp tên lửa hành trình mới duy nhất. Trong năm tài chính 2013 có 2 triệu, năm 2014 – 5 triệu USD đã được trích xuất cho hoạt động nghiên cứu dự án về loại tên lửa này, và trong vòng 3 năm tiếp theo ngân khoản mỗi năm sẽ lần lượt là 41,7, 209,0 và 352,9 triệu USD. Dự kiến đến giữa năm 2020 sẽ đưa vào trang bị tên lửa hành trình phóng từ máy bay LRSO, và tới năm 2030 nó phải thay thế loại tên lửa hành trình phóng từ máy bay AGM – 86B. Theo thông tin hiện có, loại tên lửa mới sẽ có đầu đạn hạt nhân hoặc phi hạt nhân và phải được chế tạo có sử dụng công nghệ tàng hình. Tầm bay của nó ít nhất sẽ đạt tới 3.000 – 3.500 km với vận tốc trung bình 800 km/h, độ chính xác của tên lửa khi bắn không bị trệch quá 3 – 5 mét.

Trong chỉ lệnh của tổng thống khẳng định các luận điểm của chiến lược hạt nhân nói về việc, trong tương lai sẽ duy trì và nâng cấp số vũ khí hạt nhân chiến thuật của Mỹ bố trí tại châu Âu. Dự kiến nghiên cứu, chế tạo và đưa vào trang bị loại bom hạt nhân dùng cho máy bay kiểu B – 61 – 12 để trang bị cho các máy bay tiêm kích – ném bom F – 35 tương lai.

Tóm lại, những điểm đặc thù nêu trên của chỉ lệnh “Về chiến lược sử dụng vũ khí hạt nhân của nước Mỹ” do tổng thống ban bố, chứng tỏ rằng, Washington không dự kiến đưa vào chiến lược hạt nhân quốc gia hiện hành những điều chỉnh đáng kể. Đồng thời trong văn kiện ghi nhận vai trò đang gia tăng của vũ khí hạt nhân trong nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia của Hoa Kỳ và các đồng minh của nước này.

Nhấn mạnh rằng, các lực lượng tiến công chiến lược là phương tiện kiềm chế và răn đe hạt nhân chủ yếu đối với các đối tượng tác chiến dự kiến. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia nghiên cứu nước ngoài, các lực lượng tiến công chiến lược Mỹ có cả những mặt mạnh và mặt yếu. Mặt mạnh gồm: liên kết được các lực lượng tiến công và phòng thủ chiến lược dưới sự chỉ đạo thống nhất của Bộ tư lệnh liên quân các lực lượng vũ trang Mỹ, điều này cho phép rút ngắn đáng kể thời gian thông qua quyết tâm đánh trả của tổng thống Mỹ; khả năng sẵn sàng chiến đấu cao của các lực lượng tiến công chiến lược Mỹ đáp ứng yêu cầu thực hiện các đòn tiến công tên lửa – hạt nhân nhằm tiêu diệt những mục tiêu chiến lược của đối tượng tác chiến dự kiến trong bất kỳ điều kiện tình hình nào; có những loại tên lửa đạn đạo xuyên lục địa “Minuteman – 3” và tên lửa đạn đạo “Trident – 2” trên tàu ngầm, cho phép tiết kiệm đáng kể chi phí sử dụng vũ khí trang bị, duy trì sự hợp tác, căn cứ nghiên cứu khoa học và thử nghiệm; có thể phát triển một cách linh hoạt các khả năng chiến đấu khi tình hình chính sách – quân sự và chiến lược – quân sự xấu đi nhờ có “tiềm năng phục hồi”; khả năng cung cấp tài chính ổn định và thực hiện chương trình hiện đại hóa tất cả các hợp phần của lực lượng chiến lược; chế tạo được lượng sản phẩm khoa học – kỹ thuật đáng kể và tiến hành các hoạt động nghiên cứu nhằm sản xuất và đưa vào trang bị những loại vũ khí tiến công chiến lược tương lai; bộ máy xây dựng kế hoạch sử dụng chiến đấu các lực lượng tiến công chiến lược của nước Mỹ và các đồng minh hạt nhân (Anh và Pháp) thống nhất; ban lãnh đạo chính sách – quân sự Mỹ và NATO thông qua được quyết định tiếp tục duy trì và nâng cấp vũ khí hạt nhân chiến thuật Mỹ nằm trên lãnh thổ một số nước thành viên liên minh.

Về những mặt yếu ghi nhận được: khả năng sống còn của hợp phần lực lượng tiến công chiến lược trên bộ thấp và còn thiếu trong biên chế của hợp phần này cụm tổ hợp tên lửa di động, khả năng dễ bị tổn thương và bảo vệ yếu của những mục tiêu chính trong lực lượng tiến công chiến lược, của hệ thống chỉ huy bộ đội và điều khiển vũ khí hạt nhân, của các xí nghiệp trong tổ hợp công nghiệp quân sự.

Nguồn: Bình luận quân sự nước ngoài. Tác giả: Thiếu tướng S. Chvarkov, tiến sỹ KHQS, giáo sư; Thiếu tướng M. Vildanov, phó tiến sỹ KHQS, phó giáo sư, giảng viên Học viện KHQS 

Biên dịch: Đỗ Ngọc Inh

   0   Tổng số:
  Gửi ý kiến phản hồi
336